|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R'LẤP TỈNH ĐẮK NÔNG Bản án số: 77/2024/HS-ST Ngày 11-11-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
- - - - - - - - - -
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R'LẤP, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Quy
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Sơn
- Ông Nguyễn Như Tạ
- - Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thị Vân - Thư ký viên Toà án nhân dân huyện Đắk R'Lấp, tỉnh Đắk Nông.
- - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk R'Lấp, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Kiều Oanh - Kiểm sát viên.
Ngày 11/11/2024, tại phòng xét xử Toà án nhân dân huyện Đắk R'Lấp, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 84/2024/TLST-HS ngày 04/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2024/QĐXXST-HS ngày 28/10/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thanh D, sinh năm 1997; nơi sinh: Tỉnh Quảng Ngãi; nơi thường trú: Thôn A, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; chỗ ở hiện nay: Không nơi ở nhất định; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh M, sinh năm 1970 và con bà Đỗ Thị T, sinh năm 1970; tiền án: Không, tiền sự: 01 cụ thể: Ngày 31/8/2023, Tòa án nhân dân huyện Đắk R'Lấp ban hành Quyết định số: 17/2023/QĐ-TA về việc Quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính bằng hình thức đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chưa thi hành; có vợ là chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1999 (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2021; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/6/2024 đến nay - có mặt.
Những người làm chứng: Chị Thị L, sinh năm 1998; Chị Lê Thị Hồng T1, sinh năm 1988; anh Trần Văn H1, sinh năm 2001 - vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 23/05/2024, Nguyễn Thanh D đến nhà nghỉ A thuộc thôn T, xã Đ, huyện Đ, do chị Lê Thị Hồng T1 làm chủ để thuê phòng nghỉ số 04. Sau khi thuê được phòng, D rủ Thị L là bạn gái D đến ở cùng, L đồng ý.
Khoảng 14 giờ cùng ngày, L về nhà chị gái ăn cơm còn D ở lại phòng một mình. Khoảng 17 giờ, D nhận được điện thoại của một người đàn ông tên V1 (không rõ nhân thân, lai lịch) hẹn gặp D ở dốc bà C thuộc địa phận xã Đ để nói chuyện, D đồng ý. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, D đi đến khu vực dốc bà C để gặp V1. Tại đây, V1 cho D một đoạn ống hút nhựa màu đen chứa ma túy đá cùng dụng cụ sử dụng ma túy đá (gồm một đoạn ống thủy tinh thường gọi là “nỏ”). D cất giấu trong người, rồi quay về nhà nghỉ A để sử dụng, còn V1 bỏ đi. Trên đường về, D nhặt được một ly thủy tinh nhỏ ở ven đường và ghé vào một tiệm tạp hóa (không nhớ tên) để mua 01 kéo bằng kim loại, 01 cuộn băng keo màu đen, 02 quẹt gas nhằm mục đích chế tạo các vật dụng dùng để sử dụng ma túy đá.
Khi về đến phòng nghỉ số 04, D để ma túy cùng các vật dụng đã chuẩn bị đặt lên bàn. Sau đó, D nhặt 01 vỏ chai nước Sting có sẵn ở trong phòng, dùng kéo kim loại cắt lấy phần cổ chai, chụp phần cổ chai lên miệng chiếc ly thủy tinh, rồi dùng quẹt gas hơ nóng cho phần cổ chai nhựa gắn chặt vào phần miệng ly thủy tinh, tạo thành một chiếc chai. Để cố định chặt cổ chai nhựa với miệng ly thủy tinh, D dùng băng keo đen quấn chặt vị trí ghép nối. Tiếp đến, D lấy một chiếc nắp chai nước suối có sẵn trong phòng, dùng quẹt gas hơ nóng mũi kéo kim loại để khoan 02 lỗ tròn ở trên nắp chai, lần lượt gắn chiếc “nỏ” và đoạn ống hút màu đen (có sẵn ở trong phòng) vào 02 lỗ khoan, rồi vặn nắp chai với chiếc lọ tự chế tạo thành bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá hoàn chỉnh. Tiếp đến, D tháo bỏ phần phía trên của chiếc quẹt gas màu tím, chế tạo một tim lửa gắn lên phần ống dẫn gas rồi đổ một phần ma túy trong đoạn ống hút nhựa màu đen vào bên trong “nỏ”, hàn kín đoạn ống hút để bảo quản lượng ma túy đá còn lại, nhằm sử dụng dần. Sau đó, D dùng quẹt gas màu xanh mồi lửa cho chiếc quẹt gas màu tím gắn tim lửa, đốt phía ngoài “nỏ” cho ma túy tan chảy, chuyển hóa thành dạng hơi (thường gọi là “nấu” ma túy), rồi sử dụng ma túy bằng cách hút. D đang sử dụng ma túy đá thì L đi về phòng, nên D rủ L sử dụng ma túy cùng. L đồng ý rồi ngồi xuống đầu giường, cạnh vị trí bàn gỗ, tự cầm lấy bộ dụng cụ và quẹt gas có gắn tim lửa tự châm để hút một hơi ma túy, rồi để quẹt gas và bộ dụng cụ xuống mặt bàn. D và L thay phiên nhau sử dụng hết lượng ma túy trong “nỏ”. Sau khi sử dụng ma túy xong, D cất bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế, quẹt gas màu tím có gắn tim lửa, đoạn ống hút nhựa màu đen chứa lượng ma túy còn lại vào bên trong chiếc vỏ hộp sữa hiệu “Fami" rồi để xuống nền phòng, cạnh chân bàn gỗ. Còn chiếc kéo bằng kim loại và quẹt gas màu xanh được D để ở trên bàn gỗ.
Đến sáng ngày 26 hoặc 27/5/2024 (D và L không nhớ rõ ngày), D tiếp tục lấy các dụng cụ sử dụng ma túy cùng đoạn ống hút nhựa màu đen chứa ma túy đá ra để sử dụng ma túy. D dùng kéo cắt đôi đoạn ống hút chứa ma túy đá, đổ một nửa ma túy đá vào “nỏ”. Nửa đoạn ống hút còn lại chứa chất ma túy được D hàn kín để bảo quản ma túy đá bên trong. Sau đó, D rủ L cùng nhau sử dụng hết ma túy đá trong “nỏ”. Quá trình sử dụng, D và L tự “nấu”, tự hút ma túy.
Đến tối ngày 01/6/2024, D tiếp tục lấy các dụng cụ sử dụng ma túy như trên để đổ hết số ma túy còn lại trong đoạn ống hút nhựa vào “nỏ” sử dụng với cách thức tương tự. D tiếp tục rủ L cùng sử dụng gần hết lượng ma túy còn lại, trong “nỏ” còn bám dính một ít ma túy màu nâu - đen. Sau khi D và L sử dụng ma túy xong, D cất bộ dụng cụ cùng các dụng cụ sử dụng ma túy vào bên trong chiếc vỏ hộp sữa “TH true MILK”.
Đến sáng ngày 03/6/2024, trong lúc đi ăn sáng, D nhặt được một chai nhựa có nắp vặn màu trắng rồi mang về phòng nghỉ số 04 nhà nghỉ 199. Tại đây, D khoan 02 lỗ tròn trên nắp chai nhựa, tháo đoạn ống thủy tinh “nỏ” và đoạn ống hút từ chai nhựa tự chế cũ, lần lượt gắn vào chai nhựa nêu trên, tạo thành một bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá mới và cất giấu trong vỏ hộp sữa hiệu “TH true MILK" chung với chiếc quẹt gas màu tím có gắn tim lửa tự chế. Còn chai nhựa tự chế từ ly thủy tinh và phần cổ chai nước ngọt Sting được D cất giấu trong vỏ hộp sữa “Fami”.
Khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ tiến hành kiểm tra phòng số 4 nhà nghỉ 199 và tiến hành test nhanh chất ma túy trong cơ thể D và L. Kết quả cả hai dương tính với chất ma túy Methamphetamine (ma túy đá). D đầu thú và khai nhận về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và giao nộp các đồ vật có liên quan.
Tại phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy của Trung tâm y tế huyện Đ ngày 09/6/2024 xác định: Nguyễn Thanh D nghiện ma túy loại Amphetamine/Methamphetamin; Thị Lệ không nghiện ma túy.
Tại bản kết luận giám định số 248/KL-KTHS ngày 07/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:
Chất rắn màu nâu đen bám dính bên trong 01 (một) đoạn ống thủy tinh được niêm phong trong bì thư có ghi “MẪU VẬT” gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; có khối lượng mẫu là 0,0148 gam.
Tại Cáo trạng số 80/CT-VKS-ĐL ngày 04/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R'Lấp, tỉnh Đắk Nông truy tố bị cáo Nguyễn Thanh D tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy "theo điểm a khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
Kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi phân tích nội dung vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh D phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh D từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.
Việc xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 46; các điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy:
- - 01 bì thư kích thước (16x23)cm, mặt trước ghi ký hiệu “248/KL- KTHS” và “mẫu hoàn trả”, mặt sau phong bì thư được dán kín lại, có chữ ký giáp lai ghi rõ họ tên của Nguyễn Quang V, Phạm Đình T2 và các hình con dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh Đ. Bên trong bì thư chứa: 01 đoạn ống thủy tỉnh trong suốt, dài 05cm, đường kính 0,5cm, được uốn cong một đầu, đầu đoạn ống thủy tinh được uốn cong có hình bầu dục, có đường kính 01cm và 01 gói zipper chỉ đỏ kích thước (4x6)cm, bên trong gói zipper chứa chất rắn màu nâu đen, có khối lượng mẫu là 0,0075 gam, là ma túy Methamphetamine, hoàn lại sau giám định.
- - 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế, gồm: 01 chai nhựa trong suốt có gắn nắp đậy màu trắng, trên nắp được đục 02 lỗ tròn, trong đó 01 lỗ gắn với đoạn ống hút bằng nhựa màu đen; 01 quẹt gas màu tím có gắn tim lửa tự chế; 01 quẹt gas màu xanh; 01 chiếc kéo kim loại màu trắng dài 12cm.
- - 01 ly thủy tinh nối với một phần cổ chai nhựa và được cố định lại bằng băng keo màu đen, phần miệng có gắn nắp đậy màu trắng và được đục 02 lỗ tròn; 02 vỏ hột sữa đã bị cắt bỏ một phần ở trên miệng hộp (trong đó: 01 vỏ hộp sữa “TH true MILK” và 01 vỏ hộp sữa “Fami").
Tại phiên tòa, Toà án đã triệu tập hợp lệ những người làm chứng chị Thị L, chị Lê Thị Hồng T1, anh Trần Văn H1 tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Những người này đã có lời khai đầy đủ trong quá trình điều tra được lưu trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Thanh D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng, thừa nhận Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R'Lấp truy tố về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự là đúng, không oan và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp lưu trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: Ngày 23/05/2024, Nguyễn Thanh D đến nhà nghỉ A để thuê trọ. D rủ Thị L đến ở cùng, L đồng ý. Khoảng 17 giờ cùng ngày, một người đàn ông tên V1 hẹn gặp D đến khu vực dốc bà C, tại đây V1 cho D một đoạn ống hút nhựa màu đen chứa ma túy đá cùng dụng cụ sử dụng ma túy đá. D mang về phòng trọ để sử dụng, còn V1 bỏ đi. D nhặt được một ly thủy tinh nhỏ ở ven đường và ghé vào một tiệm tạp hóa mua 01 kéo bằng kim loại, 01 cuộn băng keo màu đen, 02 quẹt gas nhằm mục đích chế tạo để sử dụng ma túy đá.
Khi về đến phòng nghỉ, D nhặt 01 vỏ chai nước Sting có sẵn ở trong phòng, dùng kéo kim loại cắt lấy phần cổ chai, chụp phần cổ chai lên miệng chiếc ly thủy tinh, rồi dùng quẹt gas hơ nóng cho phần cổ chai nhựa gắn chặt vào phần miệng ly thủy tinh, tạo thành một chiếc chai. Để cố định chặt cổ chai nhựa với miệng ly thủy tinh, D dùng băng keo đen quấn chặt vị trí ghép nối. Tiếp đến, D lấy một chiếc nắp chai nước suối có sẵn trong phòng, dùng quẹt gas hơ nóng mũi kéo kim loại để khoan 02 lỗ tròn ở trên nắp chai, lần lượt gắn chiếc “nỏ” và đoạn ống hút màu đen (có sẵn ở trong phòng) vào 02 lỗ khoan, rồi vặn nắp chai với chiếc lọ tự chế tạo thành bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá hoàn chỉnh. Tiếp đến, D tháo bỏ phần phía trên của chiếc quẹt gas màu tím, chế tạo một tim lửa gắn lên phần ống dẫn gas rồi đổ một phần ma túy trong đoạn ống hút nhựa màu đen vào bên trong “nỏ”, hàn kín đoạn ống hút để bảo quản lượng ma túy đá còn lại, nhằm sử dụng dần. Sau đó, D dùng quẹt gas màu xanh mồi lửa cho chiếc quẹt gas màu tím gắn tim lửa, đốt phía ngoài “nỏ” cho ma túy tan chảy, chuyển hóa thành dạng hơi (thường gọi là “nấu” ma túy), rồi sử dụng ma túy bằng cách hút. D đang sử dụng ma túy đá thì L đi về phòng, nên D rủ L sử dụng ma túy cùng. L đồng ý rồi ngồi xuống đầu giường, cạnh vị trí bàn gỗ, tự cầm lấy bộ dụng cụ và quẹt gas có gắn tim lửa tự châm để hút một hơi ma túy, rồi để quẹt gas và bộ dụng cụ xuống mặt bàn. D và L thay phiên nhau sử dụng hết lượng ma túy trong “nỏ”. Sau khi sử dụng ma túy xong, D cất bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế, quẹt gas màu tím có gắn tim lửa, đoạn ống hút nhựa màu đen chứa lượng ma túy còn lại vào bên trong chiếc vỏ hộp sữa hiệu “Fami" rồi để xuống nền phòng, cạnh chân bàn gỗ. Còn chiếc kéo bằng kim loại và quẹt gas màu xanh được D để ở trên bàn gỗ.
Đến sáng ngày 26 hoặc 27/5/2024, D tiếp tục lấy các dụng cụ sử dụng ma túy cùng đoạn ống hút nhựa màu đen chứa ma túy đá ra để sử dụng ma túy. D dùng kéo cắt đôi đoạn ống hút chứa ma túy đá, đổ một nửa ma túy đá vào “nỏ”. Nửa đoạn ống hút còn lại chứa chất ma túy được D hàn kín để bảo quản ma túy đá bên trong. Sau đó, D rủ L cùng nhau sử dụng hết ma túy đá trong “nỏ”. Quá trình sử dụng, D và L tự “nấu”, tự hút ma túy.
Đến tối ngày 01/6/2024, D tiếp tục lấy các dụng cụ sử dụng ma túy như trên để đổ hết số ma túy còn lại trong đoạn ống hút nhựa vào “nỏ” sử dụng với cách thức tương tự. D tiếp tục rủ L cùng sử dụng gần hết lượng ma túy còn lại, trong “nỏ” còn bám dính một ít ma túy màu nâu - đen. Sau khi D và L sử dụng ma túy xong, D cất bộ dụng cụ cùng các dụng cụ sử dụng ma túy vào bên trong chiếc vỏ hộp sữa “TH true MILK".
Đến sáng ngày 03/6/2024, khi đi ăn sáng, D nhặt được một chai nhựa có nắp vặn màu trắng rồi mang về phòng nghỉ số 04 nhà nghỉ 199. D khoan 02 lỗ tròn trên nắp chai nhựa, tháo đoạn ống thủy tinh “nỏ” và đoạn ống hút từ chai nhựa tự chế cũ, lần lượt gắn vào chai nhựa nêu trên, tạo thành một bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá mới và cất giấu trong vỏ hộp sữa hiệu “TH true MILK” chung với chiếc quẹt gas màu tím có gắn tim lửa tự chế. Còn chai nhựa tự chế từ ly thủy tinh và phần cổ chai nước ngọt Sting được D cất giấu trong vỏ hộp sữa “Fami”.
Khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tiến hành kiểm tra phòng số 4 nhà nghỉ 199 và tiến hành test nhanh chất ma túy trong cơ thể D và L. Kết quả cả hai dương tính với chất ma túy Methamphetamine (ma túy đá). D đầu thú và khai nhận về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và giao nộp các đồ vật có liên quan.
Tại phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy của Trung tâm y tế huyện Đ ngày 09/6/2024 xác định: Nguyễn Thanh D nghiện ma túy loại Amphetamine/Methamphetamin; Thị Lệ không nghiện ma túy.
Tại bản kết luận giám định số 248/KL-KTHS ngày 07/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Chất rắn màu nâu đen bám dính bên trong 01 (một) đoạn ống thủy tinh được niêm phong trong bì thư có ghi “MẪU VẬT” gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; có khối lượng mẫu là 0,0148 gam.
Do đó, có đủ căn cứ pháp lý để kết luận bị cáo Nguyễn Thanh D phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
Điểm b khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.
“2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm”.
a) Phạm tội 02 lần trở lên;
[3]. Xét hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh D là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy; hệ lụy hành vi phạm tội của bị cáo có thể gây ra những tác động tiêu cực cho xã hội và phát sinh các loại tội phạm khác, ngoài ra còn xâm phạm trực tiếp đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân và chính người thân của bị cáo. Bản thân bị cáo có 01 tiền sự cụ thể ngày 31/8/2023, Tòa án nhân dân huyện Đắk R'Lấp ban hành Quyết định số: 17/2023/QĐ-TA về việc Quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính bằng hình thức đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chưa thi hành nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để rút kinh nghiệm cho bản thân mà vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Do đó cần áp dụng mức hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và phòng ngừa tội phạm nói chung.
[4]. Về tình tiết định khung hình phạt: Nguyễn Thanh D là người chủ động, khởi xướng chuẩn bị ma túy, thuê phòng trọ và rủ Thị L cùng sử dụng ma túy 03 lần. Vì vậy, hành vi của bị cáo D bị áp dụng tình tiết định khung quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
[5]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã đầu thú và thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cần áp dụng đối với bị cáo khi quyết định hình phạt.
[6]. Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời haïn ñoái vôùi bị cáo mới có đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm nói chung trong xã hội.
[7]. Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo Nguyễn Thanh D hiện tại không có nghề nghiệp, không có thu nhập và tài sản riêng, do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
[8]. Việc xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 46; các điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tịch thu, tiêu hủy 01 bì thư kích thước (16x23)cm, mặt trước ghi ký hiệu "248/KL- KTHS” và “mẫu hoàn trả”, mặt sau phong bì thư được dán kín lại, có chữ ký giáp lai ghi rõ họ tên của Nguyễn Quang V, Phạm Đình T2 và các hình con dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh Đ. Bên trong bì thư chứa: 01 đoạn ống thủy tỉnh trong suốt, dài 05cm, đường kính 0,5cm, được uốn cong một đầu, đầu đoạn ống thủy tinh được uốn cong có hình bầu dục, có đường kính 01cm và 01 gói zipper chỉ đỏ kích thước (4x6)cm, bên trong gói zipper chứa chất rắn màu nâu đen, có khối lượng mẫu là 0,0075 gam, là ma túy Methamphetamine, hoàn lại sau giám định.
- - Tịch thu, tiêu hủy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế, gồm: 01 chai nhựa trong suốt có gắn nắp đậy màu trắng, trên nắp được đục 02 lỗ tròn, trong đó 01 lỗ gắn với đoạn ống hút bằng nhựa màu đen; 01 quẹt gas màu tím có gắn tim lửa tự chế; 01 quẹt gas màu xanh; 01 chiếc kéo kim loại màu trắng dài 12cm.
- - Tịch thu, tiêu hủy 01 ly thủy tinh nối với một phần cổ chai nhựa và được cố định lại bằng băng keo màu đen, phần miệng có gắn nắp đậy màu trắng và được đục 02 lỗ tròn; 02 vỏ hột sữa đã bị cắt bỏ một phần ở trên miệng hộp (trong đó: 01 vỏ hộp sữa “TH true MILK” và 01 vỏ hộp sữa “Fami").
[9]. Đối với hành vi của Thị L, quá trình điều tra xác định L không có hành vi cung cấp ma túy, công cụ và giúp sức cho D tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an huyện Đ ban hành Quyết định xử lý vi phạm hành chính đối với Thị L bằng hình thức phạt tiền đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là đúng quy định của pháp luật.
Đối với hành vi của người đàn ông tên V1 đã cung cấp ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy cho D, quá trình xác minh xác định đối tượng là Mai Hoàng V1 (trú tại Bon B, xã Q). Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện đã tiến hành triệu tập V1 để điều tra, xác minh làm rõ hành vi, tuy nhiên V1 đã bỏ đi khỏi địa phương, không rõ nơi ở hiện tại nên Cơ quan cảnh sát điều tra ra quyết định truy tìm và tiếp tục xác minh làm rõ hành vi của V1 để xử lý sau.
Đối với chị Lê Thị Hồng T1 (chủ nhà nghỉ 199), đã có đơn trình báo về hành vi của D và L đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, đồng thời quá trình điều tra xác định chị T1 không biết, không liên quan đến việc D và L thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên không xem xét xử lý.
[10]. Xét quan điểm và đường lối xử lý vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R'Lấp về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thanh D là có phần chưa nghiêm khắc nên Hội đồng xét xử cần quyết định mức hình phạt nghiêm khắc hơn.
[11]. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thanh D phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[12]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng vào điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố bị Nguyễn Thanh D phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh D 08 (tám) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 03/6/2024. - Việc xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 46; các điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tịch thu, tiêu hủy 01 bì thư kích thước (16x23)cm, mặt trước ghi ký hiệu “248/KL- KTHS” và “mẫu hoàn trả”, mặt sau phong bì thư được dán kín lại, có chữ ký giáp lai ghi rõ họ tên của Nguyễn Quang V, Phạm Đình T2 và các hình con dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh Đ. Bên trong bì thư chứa: 01 đoạn ống thủy tỉnh trong suốt, dài 05cm, đường kính 0,5cm, được uốn cong một đầu, đầu đoạn ống thủy tinh được uốn cong có hình bầu dục, có đường kính 01cm và 01 gói zipper chỉ đỏ kích thước (4x6)cm, bên trong gói zipper chứa chất rắn màu nâu đen, có khối lượng mẫu là 0,0075 gam, là ma túy Methamphetamine, hoàn lại sau giám định (có đặc điểm như trong biên bản giao nhận giữa Công an huyện Đ với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk R'Lấp, tỉnh Đắk Nông).
- - Tịch thu, tiêu hủy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế, gồm: 01 chai nhựa trong suốt có gắn nắp đậy màu trắng, trên nắp được đục 02 lỗ tròn, trong đó 01 lỗ gắn với đoạn ống hút bằng nhựa màu đen; 01 quẹt gas màu tím có gắn tim lửa tự chế; 01 quẹt gas màu xanh; 01 chiếc kéo kim loại màu trắng dài 12cm (có đặc điểm như trong biên bản giao nhận giữa Công an huyện Đ với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk R'Lấp, tỉnh Đắk Nông).
- - Tịch thu, tiêu hủy 01 ly thủy tinh nối với một phần cổ chai nhựa và được cố định lại bằng băng keo màu đen, phần miệng có gắn nắp đậy màu trắng và được đục 02 lỗ tròn; 02 vỏ hột sữa đã bị cắt bỏ một phần ở trên miệng hộp (trong đó: 01 vỏ hộp sữa “TH true MILK” và 01 vỏ hộp sữa “Fami”) (có đặc điểm như trong biên bản giao nhận giữa Công an huyện Đ với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk R'Lấp, tỉnh Đắk Nông).
- Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Thanh D phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, tính từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đình Quy |
Bản án số 77/2024/HS-ST ngày 11/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R'LẤP, TỈNH ĐẮK NÔNG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 77/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R'LẤP, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh D bị xét xử về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"
