Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LẬP THẠCH

TỈNH VĨNH PHÚC


CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 77/2024/HS-ST

Ngày 06 - 11 -2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Công Sinh.

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Trung Thành và bà Trần Thị Kim Khuyên.

-Thư ký phiên toà: Bà Phan Minh Triều- Thư ký Toà án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch tham gia phiên toà: Ông Đỗ Xuân Phú - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 11 năm 2024 tại nhà văn hóa thôn R, xã X, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc. Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 77/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh ngày 05/9/1990 (tên gọi khác: Không); nơi sinh và cư trú: Thôn D, xã D, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ: Nguyễn Văn D, sinh năm 1959; mẹ đẻ Phạm Thị T1, sinh năm 1960; vợ: Nguyễn Thị T2, sinh năm 1990 (đã ly hôn); con: Có 01 con sinh năm 2009; tiền án: Không.

Tiền sự: 01; Tại Quyết định số 11/2021/QĐ-TA ngày 06/8/2021, Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng, ngày 11/10/2023 chấp hành xong (chưa được xóa tiền sự).

Nhân thân: Tại bản án số 77/2017/HSST ngày 24/11/2017, Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 01 năm 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, ngày 18/3/2019 chấp hành xong hình phạt tù; tháng 8/2018 chấp hành xong án phí và bồi thường trách nhiệm dân sự (đã được xóa án tích).

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/7/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).

+ Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn D1, sinh năm 1987. Địa chỉ: Thôn D, xã D, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

- Người làm chứng: Bà Phạm Thị H, sinh năm 1969 (vắng mặt). Địa chỉ: Thôn T, xã X, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Người chứng kiến: Anh Nguyễn Quang T3, sinh năm 1987 (vắng mặt). Địa chỉ: Thôn T, xã X, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 11/7/2024, Nguyễn Văn T đang đi chơi ở khu vực cầu B, xã Đ, huyện L thì có nhu cầu sử dụng ma túy nên T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 88S1-2353 đến khu vực dốc T, đường 24m thuộc xã T, huyện L, gặp mua của một người đàn ông không rõ tên tuổi địa chỉ 01 gói ma túy loại heroin được bọc bên ngoài bằng giấy màu trắng có dòng kẻ với giá 200.000 đồng để sử dụng cho bản thân. Sau khi mua được ma túy, T dấu vào túi áo ngoài bên phải đang mặc rồi điều khiển xe đi tìm nơi sử dụng đến khoảng 11 giờ cùng ngày T đi đến khu vực ngã tư đèn xanh đỏ thuộc địa phận thôn T, xã X, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc thì bị Công an huyện L bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ: Thu giữ tại túi áo bên phải đang mặc của T 01 gói nhỏ được bọc bên ngoài bằng giấy màu trắng có dòng kẻ, bên trong gói nhỏ có chứa chất bột cục màu trắng nghi là ma túy Heroine (vật chứng được niêm phong ký hiệu A1). T khai là 01 gói ma túy vừa mua được để sử dụng cho bản thân; 01 xe máy nhãn hiệu YAMAHA loại Sirius màu đỏ đen biển kiểm soát 88S3-2353 đã cũ, đã qua sử dụng.

Tại kết luận giám định số 2047/KLGĐ-KTHS ngày 15/7/2024 của Phòng K - Công an tỉnh V kết luận:

“ Chất bột dạng cục màu trắng của mẫu ký hiệu Al gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1903g (Không phảy một chín không ba gam, không kể bao bì) loại Heroine (H).

Heroine (H1) có tên khoa học là D2, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015(sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định danh mục các chất ma túy và tiền chất”.

Về nguồn gốc ma túy T khai mua của một người đàn ông không rõ tên tuổi địa chỉ ở khu vực dốc T đường B mét thuộc địa phận xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc do T không biết rõ tên tuổi địa chỉ của người bán ma túy và không nhận dạng được nên Cơ quan điều tra không có cơ sở điều tra xác minh.

Tại Cáo trạng số 77/CT-VKS ngày 03/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch truy tố Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/7/2024; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định cùng bao gói niêm phong “MẪU TRẢ” A1=0,1670g; trả lại cho anh Nguyễn Văn D1 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, biển kiểm soát 88S3-2353.

Tại phiên tòa bị cáo nói lời sau cùng thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 11 giờ ngày 11/7/2024, tại khu vực ngã tư đèn xanh đỏ thuộc địa phận thôn T, xã X, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, Nguyễn Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy theo kết luận giám định loại Heroine có khối lượng 0,1903g mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi cất giữ chất ma túy để sử dụng cho bản thân của Nguyễn Văn T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Xét lời nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp vật chứng của vụ án, kết luận giám định của Phòng K - Công an tỉnh V; phù hợp lời khai của người làm chứng, người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Điều luật quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c, Heroine... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước và xâm phạm trật tự, an toàn xã hội ở địa phương. Như chúng ta đã biết ma tuý đã gây tác hại rất lớn và ảnh hưởng rất xấu đến sức khỏe con người, là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Trong khi cả xã hội đang đấu tranh để đẩy lùi tệ nạn ma túy ra khỏi đời sống thì bị cáo lại làm cho tệ nạn ma túy ngày càng gia tăng. Bị cáo có đầy đủ nhận thức về tác hại của ma túy cho bản thân và xã hội nhưng vẫn thực hiện. Do vậy cần phải có hình phạt thật nghiêm khắc mới tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Xét nhân thân bị cáo Nguyễn Văn T là người có sức khoẻ, phát triển bình thường về thể chất và tinh thần nhưng không chịu làm ăn chân chính, ăn chơi đua đòi nên nghiện ma túy. Năm 2017 bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 01 năm 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản mặc dù đã được xóa án tích, năm 2021 lại bị Tòa án nhân huyện T áp áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng, sau khi chấp hành xong thời gian cai nghiện bắt buộc đến nay chưa được xóa tiền sự, bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân nay lại tiếp tục phạm tội. Lẽ ra phải phạt bị cáo mức án cao xong xét thấy quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Trong vụ án này bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Vì vậy Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo còn nhất thiết phải áp dụng hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, có như vậy mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

[3] Về hình phạt bổ sung: “Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...”. Bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, không có tài sản, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Về xử lý vật chứng: Số ma túy còn lại sau giám định cùng bao gói niêm phong “MẪU TRẢ” A1=0,1670g là vật nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha biển kiểm soát 88S3-2353 là tài sản của anh Nguyễn Văn D1 khi cho T mượn xe anh D1 không biết T sử dụng xe để đi mua ma túy nên cần trả lại cho anh Nguyễn Văn D1.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho T, do T không biết rõ tên tuổi địa chỉ người này và không nhận dạng được nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 01 (Một) năm 08 (Tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 11/7/2024.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định cùng bao gói niêm phong “MẪU TRẢ” A1= 0,1670g.

Trả lại cho anh Nguyễn Văn D1 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, biển kiểm soát 88S3-2353 (vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 18 tháng 10 năm 2024 giữa Công an huyện L và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lập Thạch).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh phúc;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lập Thạch;
  • - Công an huyện Lập Thạch; nhà tạm giữ Công an huyện Lập Thạch; Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện Lập Thạch;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - UBND xã Duy Phiên, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Bị cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Lưu HS, bộ phận theo dõi THAHS, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Công Sinh

HỘI THẨM NHÂN DÂN

Nguyễn Trung T5

Trần Thị Kim Khuyên

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Công S

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 77/2024/HS-ST ngày 06/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC về tàng trữ trái phép chất ma tuý (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 77/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Thức tàng trữ ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger