TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 77/2024/HS-ST Ngày 31 tháng 10 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thanh Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Châu Kim Ba và ông Phạm Thanh Hải
Thư ký phiên tòa: Ông Châu Kim Sol – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Nga - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình thụ lý số: 69/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:
Lê Văn T, sinh năm: 1980; nơi sinh: Tịnh Biên, tỉnh An Giang; trú tại: tổ G, ấp A, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: không biết chữ; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T1 và bà Nguyễn Thị N; có vợ đã ly hôn, có 03 người con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 02/02/2024 đến nay. (có mặt)
- Người bị hại: Ông Trương Lâm N1, sinh năm 1976; trú tại: ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang; (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị N2, sinh năm 1979; trú tại: ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang. (có mặt)
Những người làm chứng: Ông Bùi Ngọc A, sinh năm: 1963 (có mặt); Ông Nguyễn Văn B, sinh năm: 1987, bà Nguyễn Thị N3, sinh năm: 1963, chị Trần Thị Ngọc T2, sinh năm: 1991 và ông Trần Thanh T3, sinh năm: 1968 (cùng vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 05 giờ ngày 17/6/2023, Lê Văn T neo đậu vỏ lãi gần mé kênh T thuộc ấp A, xã A, thị xã T, tỉnh An Giang để cân cá bán. Lúc này, T thấy có 02 chiếc ghe cào chạy hướng Tân Lợi đi Cầu Sắt 13, chạy với tốc độ nhanh, do sợ nước tràn vào vỏ lãi, nên T dùng đèn pin chiếu sáng về hướng 02 chiếc ghe ra tín hiệu giảm tốc độ. Khi chiếc ghe đầu tiên (không rõ người lái) chạy ngang, không giảm tốc độ làm nước tràn vào vỏ lãi của T, T tiếp tục dùng đèn pin ra tín hiệu giảm tốc độ cho chiếc ghe chạy phía sau, do anh Nguyễn Văn B điều khiển chở ông Trương Lâm N1 ngồi ở giữa ghe, nhưng anh B không giảm tốc độ. Nên T tức giận, nhặt cục đá (bằng xi măng, kích thước 13cm x 12cm x 04cm) ở mé kênh ném về phía ghe, làm trúng vào mắt bên phải của ông N1 gây thương tích.
Sau đó, ông N1 được người nhà đưa đi điều trị tại Bệnh viện Đa khoa khu vực tỉnh An Giang tại thành phố C, rồi tiếp tục chuyển đến Bệnh viện R tại thành phố Hồ Chí Minh điều trị.
Căn cứ Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể số 737/23/KLTTCT-TTPY ngày 20/11/2023, của Trung tâm Pháp y tỉnh A kết luận như sau: Sẹo vết thương trùng vết mổ đi từ đuôi mày phải đến má phải vòng vào mi dưới mắt phải kích thước (07 x 0.2) cm, là sẹo có kích thước trung bình, tỷ lệ là 06%; Sẹo mờ vùng mặt phải kích thước (0.6 x 0.1) cm, là sẹo có kích thước nhỏ, tỷ lệ là 01%; Gãy thành ngoài hốc mắt phải, gãy xương gò má phải can xấu gây biến dạng mặt phải, tỷ lệ là 16%; Gãy thành xoang hàm phải, tỷ lệ là 07%; Gãy ngành lên xương hàm dưới bên phải, tỷ lệ là 08%.
Đã phẫu thuật kết hợp xương bờ ngoài ổ mắt phải. Hiện tại mắt phải nhắm khít, không ảnh hưởng thị lực.
Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên của Trương Lâm N1 là: 33%.
Qua sự việc, ông Trương Lâm N1 yêu cầu xử lý hình sự đối với Lê Văn T, yêu cầu bồi thường thiệt hại chi phí điều trị, chi phí bồi dưỡng sức khỏe, tiền xe đi lại, chi phí phẩu thuật với tổng số tiền 43.000.000 đồng, ông đã nhận trước 5.000.000 đồng.
Ngày 02/02/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã T đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Lê Văn T về tội “Vô ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, sổ sung năm 2017;
Ngày 15/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Vô ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, sổ sung năm 2017, theo Cáo trạng số 39/CT-VKSTB-HS.
Ngày 19/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên ban hành Công văn số 322/CV-VKSTB đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên trả hồ sơ điều tra bổ sung và ban hành Quyết định số 07/QĐ-VKSTB ngày 19/7/2024 trả hồ sơ vụ án cho Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã T để điều tra bổ sung.
Ngày 02/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã T ra Quyết định thay đổi quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi quyết định khởi tố bị can đối với Lê Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, sổ sung năm 2017;
Ngày 30/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, sổ sung năm 2017, theo Cáo trạng số 80/CT-VKSTB-HS ngày 30/9/2024.
Tại phiên tòa, bị hại Trương Lâm N1 khai nhận như nội dung cáo trạng đã truy tố, qua sự việc yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe bị xâm hại tổng cộng 50.000.000 đồng, bị cáo đã bồi thường được 15.000.000 đồng, yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền còn lại là 35.000.000 đồng và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo khai nhận như nội dung cáo trạng đã truy tố, sau khi nghe nội dung luận tội và đề nghị mức hình phạt của Kiểm sát viên, bị cáo không có ý kiến tranh luận về tội danh và khung hình phạt mà cáo trạng đã truy tố, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, hiện bị cáo do khó khăn nên đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả số tiền 15.000.000 đồng và đồng ý bồi thường thêm cho bị hại 35.000.000 đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng trong quá trình điều tra và có mặt tại phiên tòa khai nhận như nội dung cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên thực hành công tố tại phiên tòa, sau khi xét hỏi, tranh luận, xem xét tính chất vụ án, mức độ, hậu quả từ hành vi phạm tội của bị cáo tác động đến xã hội, phân tích các tình tiết định tội, định khung hình phạt, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu luận tội giữ nguyên quyết định Cáo trạng truy tố và đề nghị:
Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lê Văn T từ 04 năm đến 05 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”;
Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo kể từ ngày chấp hành án.
Đề nghị áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, các Điều 584, 585, 586 và 590 Bộ luật dân sự công nhận sự thỏa thuận giữa các bị cáo và bị hại, bị cáo tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiền 35.000.000 đồng.
Đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 cục đá có bề mặt lồi lõm, kích thước
(13x12x4)cm; 01 cái áo bằng vải, ngắn tay, màu xanh và 01 cái quần đùi, bằng vải, màu đỏ.
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - C (nay thị xã) Tịnh Biên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện (nay thị xã ), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự;
[1.2] Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện.
[1.3] Những người làm chứng vắng mặt. Xét, những người vắng mặt đã có lời khai trong quá trình điều tra nên việc vắng mặt tại phiên tòa không gây trở ngại cho việc xét xử. Nên, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, hoàn toàn phù hợp lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra; phù hợp lời khai của người làm chứng về toàn bộ diễn biến về thời gian, địa điểm xảy ra hành vi phạm tội, các tình tiết khác của vụ án; phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh, sơ đồ hiện trường được lập trong giai đoạn điều tra; ngoài ra, còn phù hợp với tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ. Đã đủ căn cứ xác định:
Khi bị cáo đang neo đậu vỏ lãi thấy có 02 chiếc ghe cào chạy với tốc độ nhanh, do sợ nước tràn vào vỏ lãi, nên bị cáo dùng đèn pin chiếu sáng về hướng 02 chiếc ghe ra tín hiệu giảm tốc độ. Khi chiếc ghe đầu tiên (không rõ người lái) chạy ngang, không giảm tốc độ làm nước tràn vào vỏ lãi của bị cáo, bị cáo tiếp tục dùng đèn pin ra tín hiệu giảm tốc độ cho chiếc ghe chạy phía sau, do anh Nguyễn Văn B điều khiển chở bị hại Trương Lâm N1 ngồi ở giữa ghe, nhưng anh B không giảm tốc độ. Nên bị cáo tức giận, nhặt cục đá (bằng xi măng, kích thước 13cm x 12cm x 04cm) ở mé kênh ném về phía ghe, làm trúng vào mắt bên phải của bị hại gây thương tích tổng tỷ lệ 33%.
Sức khỏe của con người là vốn quý giá của xã hội, được mọi người tôn trọng và pháp luật bảo vệ; Mọi hành vi xâm phạm đến sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật đều là hành vi nguy hiểm cho xã hội và sẽ bị xử lý kịp thời, nghiêm minh bằng pháp luật.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng bất chấp, cố ý thực hiện với ý thức mong muốn và bỏ mặc cho hậu quả xảy ra; chỉ vì tức giận ghe của bị hại không giảm tốc độ, bị cáo dùng cục đá đông cứng bằng xi măng, kích thước 13cm x 12cm x 04cm là một loại hung khí nguy hiểm ném về phía bị hại trúng vào vùng mắt bên phải gây thương tích với tổng tỷ lệ thương tích 33%;
Bị cáo biết cục đá đông cứng bằng xi măng, kích thước 13cm x 12cm x 04cm là một loại hung khí nguy hiểm, nếu ném vào cơ thể người khác có thể gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nhưng bị cáo cố ý thực hiện; Khi thực hiện hành vi, bị cáo không nhầm vào nơi xung yếu trên cơ thể của bị hại, bị cáo không mong muốn tước đoạt tính mạng của bị hại, nhưng thể hiện sự xem thường sức khỏe của người khác; Nên cần có một hình phạt nghiêm mới tương xứng với mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm mục đích cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người dân biết tôn nghiêm của pháp luật, tôn trọng quyền nhân thân của người khác, đồng thời răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
Với phân tích trên, Hội đồng xét xử xác định: Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”; Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, có khung hình phạt từ 05 năm đến 10 năm tù.
Do đó, điều luật viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Hành vi và hậu quả từ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là rất nghiêm trọng, do đó đại diện Viện kiểm sát đại truy tố bị cáo về tội danh, điểm, khoản, đề nghị xử phạt bị cáo tù giam một thời gian để giáo dục bị cáo là có cơ sở chấp nhận.
[2.2] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Thấy rằng, tại phiên tòa, cũng như trong quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải; bị cáo đã chủ động giao nộp 5.000.000 đồng để khắc phục hậu quả cho bị hại; tại phiên tòa người bị hại cũng xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự mà Hội đồng xét xử xem xét, cân nhắc khi quyết định hình phạt.
Do bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51, nên đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và nằm trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật là có cơ sở chấp nhận.
[2.3] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị cáo và bị hại đã thỏa thuận được với nhau về việc bồi thường, tổng số tiền bị cáo bồi thường thiệt hại do sức
khỏe bị xâm phạm cho bị hại là 50.000.000 đồng, bị cáo đã bồi thường được 15.000.000 đồng, bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền còn lại 35.000.000 đồng; Xét thấy, thỏa thuận nêu trên của các bên là tự nguyện nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.4] Về xử lý vật chứng: Vật chứng vụ án là cục đá có bề mặt lồi lõm, kích thước (13x12x4)cm là công cụ dùng vào việc phạm tội; đối với vật chứng 01 cái áo bằng vải, ngắn tay, màu xanh và 01 cái quần đùi, bằng vải, màu đỏ tạm giữ của bị cáo không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy tất cả các vật chứng trên.
[2.5] Về án phí và quyền kháng cáo: Do bị cáo và bị hại thỏa thuận được với nhau về việc bồi thường thiệt hại tại phiên tòa, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”;
Xử phạt: bị cáo Lê Văn T 04 (bốn) năm tù;
Thời hạn chấp hành hình phạt được tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án.
Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 584, 585 và 590 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Công nhận sự thỏa thuận, bị cáo Lê Văn T có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về sức khỏe bị xâm hại cho bị hại Trương Lâm N1 số tiền còn lại là 35.000.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy: 01 cục đá (dạng bê tông) có bề mặt lồi lõm, kích thước (13x12x4)cm; 01 cái áo vải, ngắn tay, màu xanh, nắp túi áo phía trước, bên trái và bên phải có viền màu vàng, trên nắp áo có chữ Vicen HA TIEN; 01 cái quần đùi, bằng vải, màu đỏ, trên túi và bên phải của thân ống quần có ba viền trắng.
Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 19/4/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên.
Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 21, điểm a, f khoản 1 Điều 23, Danh mục án phí của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và nộp 1.750.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thanh Hùng |
Bản án số 77/2024/HS-ST ngày 31/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 77/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn Thanh dùng cục đá ném bị hại gây thương tích tỷ lệ 33%
