|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG TỈNH THANH HÓA Bản án số: 77/2024/HS-ST Ngày: 30-10-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG - TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tiến Thịnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Biên.
Ông Đặng Văn Bộ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Trường - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 69/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T, sinh ngày 08/10/1987 tại huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn B, xã L, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa; Số thẻ CCCD: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt N; Con ông Nguyễn Văn L và bà Trương Thị H; Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 25/6/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông xử phạt 04 tháng 14 ngày tù về tội “Đánh bạc” (chấp hành xong án phạt tù ngày 26/5/2022); Nhân thân: Ngày 28/11/2016, Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông xử phạt 5.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” (đã chấp hành xong). Bị tạm giam từ ngày 23/8/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ, Công an huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá. Có mặt.
Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Văn Th, sinh năm 1998; Nơi cư trú tại: Thôn H, xã L, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
- Anh Phạm văn T, sinh năm 1988; Nơi cư trú tại: Thôn V, xã L, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
- Anh Trương Thế Tr, sinh năm 1972; Nơi cư trú tại: Thôn V, xã L, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
- Anh Trần Văn H, sinh năm 1982; Nơi cư trú tại: Thôn Đ, xã L, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
- Anh Tống Xuân N, sinh năm 1974; Nơi cư trú tại: Thôn Quảng Bình, xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
- Anh H Văn D, sinh năm 1987; Nơi cư trú tại: Thôn V, xã L, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Văn Th, sinh năm 1999; Nơi cư trú tại: Thôn T, xã L, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
- Anh Bùi Đình T, sinh năm 1985; Nơi cư trú tại: Thôn V, xã L, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
- Anh Bùi Đình T, sinh năm 1980; Nơi cư trú tại: Thôn V, xã L, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21h00' ngày 07/3/2023, Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Exicter BKS 29Y7 - 245.88 đến nhà Phạm Văn T, sinh năm 1988, trú tại đường 7, xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa để đánh bạc do Nguyễn Văn Th và Trần Thành Đ tổ chức. Khi đến nơi thì An Văn B ra mở cửa, T đi vào gian lồi cạnh bếp ăn thấy Trương Thế T, Tống Xuân N, Bùi Đình T, Nguyễn Văn Th, Bùi Đình T, Lê Quân Thụy, Tống Văn Lượng, Trương Thế Tr, Trần Văn H, Lê Văn Th, Nguyễn Văn Th, Trương Văn H, Nguyễn Thành L và H Văn D đang đánh bạc. Lúc này, do số lượng người đánh bạc đông nên Đ và Th tổ chức thành 02 chiếu bạc, trong đó: chiếu 1 gồm Nguyễn Văn Th, Nguyễn Thành L, Nguyễn Văn Th, Tống Văn L, Lê Văn Th, Trương Văn H, Trương Thế Th và Lê Quân Th; chiếu 2 gồm Trương Thế Tr (đem theo 4.700.000đ và vay của Đạt 5.000.000đ để sử dụng đánh bạc), Trần Văn H (sử dụng 3.600.000đ để đánh bạc), Tống Xuân N (sử dụng 6.000.000₫ để đánh bạc), H Văn D (sử dụng số tiền 11.500.000đ để đánh bạc), Nguyễn Văn Th (đem theo 3.000.000đ và vay của Đạt 10.000.000đ để sử dụng đánh bạc), Bùi Đình T (sử dụng 2.100.000đ để đánh bạc), Bùi Đình T (vay của Đạt 5.000.000đ để sử dụng đánh bạc) và Nguyễn Văn T (sử dụng 5.500.000₫ để đánh bạc). Các đối tượng tham gia đánh bạc dưới hình thức đánh bài “ba cây cầm chương”, đặt cửa thấp nhất 200.000đ, không giới hạn cao nhất, cách thức chơi như sau: Bộ bài tú lơ khơ lược bỏ các quân bài 10, J, Q, K và để lại các quân bài từ A (A được tính là 1) đến 9. Mỗi ván bài, mỗi người đặt cửa ít nhất là 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) gọi là tiền “đặt cược” và không giới hạn số tiền đặt cược cao nhất, số tiền này đưa cho Đạt để bỏ vào con lợn màu xanh do Đạt chuẩn bị trước đó. Người cầm cái (cầm chương) chia cho mỗi người chơi 03 quân bài, sau khi lên bài thì những người chơi so bài với người cầm chương. Trong đó, quy ước bộ bài cao nhất là “Đồng hoa” (03 quân bài liền kề nhau và cùng chất với nhau, VD: 1,2,3 cơ); tiếp đến là “Sáp” (03 quân bài giống nhau, VD: 2,2,2); tiếp đến là “Mì” (tổng điểm của 03 quân bài là 10, VD: 2,3,5), tiếp đến là 9 và lần lượt. Nếu trong mỗi ván có hai người có số điểm bài bằng nhau hoặc có các bộ bài giống nhau thì lấy chất bài để phân thắng thua, trong đó quy ước lần lượt chất bài là rô, cơ, tép, bích. Nếu người cầm chương có các bộ bài “Đồng hoa” hoặc “Sáp” hoặc “Mì” thì cắt ra số tiền 200.000đ (Hai mươi nghìn đồng) đưa cho Đạt bỏ vào lợn nhựa màu xanh. Quá trình đánh bạc, người chơi ngoài đặt cược với người câm cái thì có thể đặt cược với nhau, những đối tượng tham gia đánh bạc nếu có nhu cầu vay tín dụng của Đ thì Đ sẽ cắt phí là 50.000đ/1.000.000đ bỏ vào 01 túi xách màu nâu. Các đối tượng đánh bạc đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 08/03/2023 thì bị Công an huyện Hà Trung phát hiện nên T và các đối tượng vứt bỏ tiền lại rồi bỏ chạy nên không xác định được tiền thắng, thua. Tổ công tác Công an huyện Hà Trung lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn Th, Trần Thành Đ, Nguyễn Thành L, Trương Văn H, Lê Văn Th, Trương Thế Th, An Văn B, Trần Duy U, Trương Thế Tr, H Văn D và thu giữ tang vật vụ án. Còn Nguyễn Văn T chạy ra đường quốc lộ 1A bắt xe khách bỏ trốn vào các tỉnh phía Nam. Đến ngày 23/8/2024, Công an tỉnh Thanh Hóa đã bắt được T khi đang lẩn trốn tại xã Bình Đông, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
Vật chứng thu giữ gồm:
Thu giữ khi bắt quả tang: Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt N 32.650.000đ; 02 bộ bài tú lơ khơ mỗi bộ gồm 36 quân bài; 02 chiếu nhựa đã qua sử dụng.
Tiến hành khám xét nơi ở của Phạm Văn T, thu giữ: 01 túi xách màu nâu bên trong có số tiền 4.500.000₫ là tiền làm tín dụng đen (tiền cho các con bạc vay khi đánh bạc) của Đạt; 01 chiếc giày trong phòng ngủ bên trong có số tiền 6.700.000₫ là số tiền của các đối tượng đánh bạc cất giấu trong quá trình bỏ chạy khi bị lực lượng Công an huyện Hà Trung bắt quả tang; 01 con lợn nhựa màu xanh bên trong có số tiền 11.000.000đ là số tiền mà các đối tượng thu lợi từ việc tổ chức đánh bạc.
Thu giữ đồ vật, tài liệu của các đối tượng: 01 điện thoại Iphone màu vàng đồng, bên trong lắp số sim 0989.208.838; 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy S11FE 5G, bên trong lắp sim số 0965.446.999; 01 điện thoại di động OPPO Reno 8 màu đen, bên trong lắp số sim 0378.530.378; 01 xe mô tô BKS 36B8 - 684.13; 01 điện thoại Samsung Galaxy A03 màu đen, bên trong lắp sim số 0374.881.275; 01 điện thoại Nokia 1280, màu đen, bên trong lắp số sim 0989.492.987; 01 điện thoại di động Iphone 1S Promax màu xanh, bên trong lắp sim số 0858.030.123; 01 xe mô tô nhãn hiệu Dream; 01 điện thoại Samsung Galaxy J Note 9 màu nâu, bên trong lắp sim số 0319.843.112; 01 điện thoại di động Samsung ốp nhựa màu xanh; 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax màu xanh, bên trong lắp sim số 0914.166.291; 01 đồng hồ; 01 điện thoại di động Iphone XS màu trắng, bên trong lắp sim số 0961.541.615; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh. 01 két sắt màu xanh hiệu Việt Tiệp, 01 xe ô tô nhãn hiệu KIA, BKS 36A - 474.47.
Tại Kết luận giám định số 4687/KL-KTHS ngày 28/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Không phát hiện dấu hiệu chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 05 tệp video của 01 USB gửi giám định; Mô tả một số hình ảnh trong tệp video gửi giám định, thể hiện trong phụ lục.
Tại Kết luận giám định số 1423/KL-KTHS ngày 12 tháng 4 năm 2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: 283 tờ tiền Ngân hàng Nhà nước Việt N nêu ở mục II.1. Mẫu cần giám định là tiền thật.
Việc xử lý vật chứng:
Đối với 01 mô tô nhãn hiệu Exicter BKS 29Y7 - 245.88 thuộc sở hữu của anh Nguyễn Văn Chinh, sinh năm 1990 trú tại thôn Quảng Bình, xã Hà Long, huyện Hà Trung (em trai Nguyễn Văn T), do anh Chinh không biết T lấy xe đi đánh bạc nên sau khi thu giữ Cơ quan điều tra trả lại cho anh Chinh quản lý, sử dụng.
Đối với các vật chứng, đồ vật, tài liệu đã thu giữ khác và hành vi của Nguyễn Văn Th và các đối tượng có liên quan đã được xử lý theo bản kết luận điều tra số 60/KL-CQĐT ngày 02/8/2023 và bị xét xử tại Bản án số 30/2024/HS-ST ngày 10/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.
Bản cáo trạng số: 73/CT-VKSHT ngày 14/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn T, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 321; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T với mức án từ 36 đến 39 tháng tù.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21; Điều 23; của Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không trình bày lời bào chữa và không tranh luận gì.
Lời nói sau cùng: Bị cáo Nguyễn Văn T xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hà Trung, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
[2.1] Vào khoảng 21h00' ngày 07/3/2023, Nguyễn Văn T đến nhà Phạm Văn T, trú tại đường 7, xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa để chơi đánh bạc do Nguyễn Văn Th và Trần Thành Đ tổ chức bằng hình thức đánh bài “ba cây cầm chương” được thua bằng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho 02 chiếu bạc. Chiếu bạc của T gồm: Trương Thế Tr (sử dụng 9.700.000đ để đánh bạc), Trần Văn H (sử dụng 3.600.000đ để đánh bạc), Tống Xuân N (sử dụng 6.000.000đ để đánh bạc), H Văn D (sử dụng số tiền 11.500.000đ để đánh bạc), Nguyễn Văn Th (sử dụng 13.000.000đ để đánh bạc), Bùi Đình T (sử dụng 2.100.000đ để đánh bạc), Bùi Đình T (sử dụng 5.000.000đ để đánh bạc) và Nguyễn Văn T (sử dụng 5.500.000đ để đánh bạc), tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 56.400.000đ.
[2.2] Lời khai nhận tội của Nguyễn Văn T tại phiên tòa phù hợp với nội dung của bản cáo trạng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi đánh bạc là trái pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện; tham gia đánh bạc cùng các đối tượng khác với tổng số tiền dùng đánh bạc trị giá trên 50.000.000đ. Do đó, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi và hậu quả: Hành vi phạm tội đánh bạc của Nguyễn Văn T có tính chất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh của xã hội. Việc bị cáo và một số đối tượng khác (đã bị xử lý hình sự) sát phạt, tước đoạt tiền bạc, tài sản của nhau để thu lợi bất chính có thể dẫn đến các hậu quả nghiêm trọng, làm phát sinh các loại tệ nạn và tội phạm nguy hiểm khác như trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cướp tài sản... Việc quy định tội phạm này nhằm đấu tranh ngăn chặn tệ nạn cờ bạc trong xã hội, giữ gìn trật tự công cộng, bảo vệ tính mạng, sức khỏe và tài sản của công dân.
[4] Về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo Nguyễn Văn T là người có nhân thân xấu; đã bị kết án về tội “Đánh bạc”, chưa được xoá án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, thuộc trường hợp tái phạm nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự; Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt:
[5.1] Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi và hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của Nguyễn Văn T như đã nêu trên, xét thấy cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm minh để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung; đồng thời việc cách ly xã hội đối với bị cáo một thời gian là cần thiết. Nhưng khi quyết định hình phạt cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo, sớm trở thành người công dân tốt.
[5.2] Xét bị cáo Nguyễn Văn T là người không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
[6] Về vật chứng: 01 mô tô nhãn hiệu Exicter BKS 29Y7 - 245.88 đã được trả lại cho chủ sở hữu; các vật chứng còn lại đã được xử lý tại bản án 30/2024/HS-ST ngày 10/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T là người bị kết án nên buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 321; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự;
Căn cứ vào: Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; Điều 26 của Luật thi hành án dân sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 39 ( ba chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/8/2024.
Án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thâm.
T hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Tiến Thịnh |
Bản án số 77/2024/HS-ST ngày 30/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG - TỈNH THANH HÓA về hình sự sơ thẩm (tội đánh bạc)
- Số bản án: 77/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG - TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Trường "Đánh bạc"
