|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 77/2024/HNGĐ-ST Ngày 25 - 10 - 2024 V/v: “Ly hôn” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Viết Hải
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Thiện và ông Trương Xuân Mâu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 129/2023/TLST-HNGĐ ngày 23/10/2023, về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 191 /2024/QĐ-ST ngày 04 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị B, sinh năm 1992; hiện trú tại: Đ Thôn Q, xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
Bị đơn: Anh Nguyễn Xuân H, sinh năm 1982; nơi ĐKNKTT trước khi xuất cảnh: Thôn D, xã V, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Hiện trú tại: Gyeongsangbugdo G CK (Hàn Quốc), có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lê Thị B trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị B và anh Nguyễn Xuân H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện B, tỉnh Quảng Bình vào ngày 17/12/2016. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, vợ chồng bàn bạc thống nhất để anh H đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc để cải thiện kinh tế gia đình. Thời gian đó vợ chồng sống xa nhau nhưng vẫn thường xuyên liên lạc quan tâm động viên nhau vượt qua khó khăn. Đến năm 2019 chị B cũng đi xuất khẩu lao động sang Hàn Quốc đoàn tụ cùng với chồng. Tuy nhiên, vợ chồng chung sống ở nước ngoài không hòa hợp, bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung nên thường xuyên gây gỗ, cãi vả nhau. Sang Hàn Quốc vợ chồng sống chung cùng nhau được khoảng một tháng thì xảy ra mâu thuẩn căng thẳng nên chị B trở về Việt Nam, còn anh H vẫn tiếp tục ở lại Hàn Quốc. Kể từ đó hai người sống ly thân, ít liên lạc với nhau, mâu thuẩn kéo dài, tình cảm vợ chồng lạnh nhạt dần, hai người ở hai nước khác biệt không còn quan tâm đến nhau. Nay chị B xác định không còn tình cảm vợ chồng, vợ chồng không thể hàn gắn được nên chị B làm đơn yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Xuân H.
Về con chung và tài sản chung: Chị Lê Thị B trình bày, vợ chồng không có con chung, không có tài sản chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn anh Nguyễn Xuân H: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn theo địa chỉ nguyên đơn cung cấp, theo phương thức tống đạt đến C tại Hàn Quốc quy định tại khoản 1 Điều 474, Điều 475 Bộ luật tố tụng dân sự. Ngày 15/02/2024, C tại Hàn Quốc gửi biên bản xác nhận về việc đã thực hiện tống đạt, niêm yết công khai và đăng trên cổng thông tin điện tử của C. Ngày 19/02/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình nhận được bản tự khai đề ngày 31/01/2024 của anh Nguyễn Xuân H gửi về từ nước ngoài, anh H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Tôi và Chị Lê Thị B có quá trình tìm hiểu, yêu nhau, sau đó tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn vào ngày 17 tháng 2 năm 2016 tại UBND xã V, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Sau khi kết hôn, vợ chồng bàn bạc thống nhất để tôi đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc nhằm cải thiện kinh tế gia đình. Thời gian đầu vợ chồng sống xa nhau nhưng vẫn thường xuyên liên lạc hỏi thăm. Đến năm 2019 vợ tôi cũng sang Hàn Quốc để đoàn tụ cùng chồng, quá trình sống chung tại Hàn Quốc, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính cách, quan điểm sống vợ chồng không hòa hợp, thiếu tin tưởng và quan tâm lẫn nhau về tình cảm, kinh tế. Sau đó 01 tháng vợ tôi quay lại Việt Nam, còn tôi vẫn tiếp tục ở lại Hàn Quốc. Từ thời gian đó đến nay vợ chồng ít liên lạc với nhau, khi liên lạc thường hay cãi nhau, tình trạng mâu thuẫn kéo dài, vợ chồng không thể hàn gắn được. Nay chị B làm đơn khởi kiện xin ly hôn tôi đồng ý ly hôn. Đề nghị Tòa án giải quyết cho chúng tôi được ly hôn.
Vì điều kiện công việc ở xa, tôi không thể sắp xếp về Việt Nam để tham gia phiên tòa giải quyết theo thời gian đã được ấn định. Tôi xin được vắng mặt tại các phiên hòa giải và phiên tòa, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình giải quyết xét xử vắng mặt tôi.
Về quan hệ con chung và tài sản chung: vợ chồng không có con chung, không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Xét thấy việc trưng cầu giám định đối với chữ viết, chữ ký tại bản tự khai do anh Nguyễn Xuân H gửi về là cần thiết cho việc làm căn cứ giải quyết vụ án. Ngày 27/02/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình đã ra Quyết định số 451/2024/QĐ-TCGĐ trưng cầu giám định đối với chữ viết, chữ ký của anh Nguyễn Xuân H ở mục “Ký tên” trong Bản tự khai của anh Nguyễn Xuân H gửi cho Tòa án. Tại kết luận giám định số 299/KL-KTHS ngày 04/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q đã xác định chữ viết, chữ ký tại Bản tự khai mà Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình nhận được và chữ viết, chữ ký trên tài liệu mẫu so sánh là do cùng một người viết (chữ viết, chữ ký tại Bản tự khai là do chính anh Nguyễn Xuân H viết ra).
Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn chị Lê Thị B giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Đề nghị xét xử vắng mặt anh H vì anh H có ý kiến đề nghị xét xử vắng mặt.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc thu thập chứng cứ đúng quy định, đảm bảo quyền lợi của các đương sự. Quá trình giải quyết vụ án và Tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn anh Nguyễn Xuân H có ý kiến đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị B, xử cho chị B được ly hôn anh Nguyễn Xuân H; Về con chung và tài chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét. Các đương sự phải chịu án và chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, ý kiến của nguyên đơn, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Lê Thị B khởi kiện về việc “Ly hôn” với bị đơn anh Nguyễn Xuân H đang cư trú và làm việc tại nước ngoài, theo thông tin cung cấp của Phòng Q Công an tỉnh Q, thì anh Nguyễn Xuân H đã xuất nhập cảnh nhiều lần, lần gần nhất xuất cảnh ngày 25/02/2016, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về Việt Nam. Đây là vụ án có bị đơn là Công dân Việt Nam đang cư trú và làm việc tại nước ngoài. Vì vậy, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình thụ lý giải quyết vụ án là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm d khoản 1 Điều 469 Bộ luật tố tụng dân sự.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn theo địa chỉ nguyên đơn cung cấp, theo phương thức tống đạt đến C tại Hàn Quốc quy định tại khoản 1 Điều 474, Điều 475 Bộ luật tố tụng dân sự. Ngày 15/02/2024, C tại Hàn Quốc gửi biên bản xác nhận về việc đã thực hiện tống đạt, niêm yết công khai và đăng trên cổng thông tin điện tử của C. Ngày 19/02/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình nhận được bản tự khai đề ngày 31/01/2024 của anh Nguyễn Xuân H gửi về từ nước ngoài. Tòa án đã tiến hành trưng cầu giám định chữ viết, chữ ký của anh Nguyễn Xuân H tại Bản tự khai và đã xác định chữ viết, chữ ký tại Bản tự khai là do anh Nguyễn Xuân H viết ra. Tại bản tự khai anh H đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn anh H.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị B và anh Nguyễn Xuân H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện B, tỉnh Quảng Bình vào ngày 17/12/2016. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Thị B và anh Nguyễn Xuân H1 là hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung hòa thuận hạnh phúc. Do điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, để có tiền chăm lo cho gia đình, vợ chồng bàn bạc để anh H đi nước ngoài làm ăn. Thời gian đầu anh H mới sang Hàn Quốc, vợ chồng vẫn thường xuyên liên lạc quan tâm động viên nhau vượt qua khó khăn. Đến năm 2019, chị B cũng đi xuất khẩu lao động sang Hàn Quốc sống đoàn tụ cùng anh H. Tuy nhiên, trong thời gian sống chung tại Hàn Quốc thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính cách, quan điểm sống vợ chồng không hòa hợp, thiếu tin tưởng và quan tâm lẫn nhau về tình cảm, kinh tế nên thường có những lời nói xúc phạm, thiếu tôn trọng nhau, thỉnh thoảng còn gây gỗ, cãi vã nhau căng thẳng, nên sống chung cùng nhau được khoảng một tháng thì chị B trở về Việt Nam, còn anh H vẫn tiếp tục ở lại Hàn Quốc. Kể từ đó hai bên ít liên lạc hỏi han, quan tâm đến nhau, ai lo và biết công việc của người đó, hai bên sống ly thân. Hiện tại cả chị B và anh H đều khẳng định mẩu thuẩn vợ chồng đã căng thẳng, đã sống ly thân không còn quan tâm gì đến nhau, nên tình cảm vợ chồng thực sự không còn, không thể trở lại sống chung cùng nhau được. Do đó, chị B làm đơn xin ly hôn anh H, anh H cũng đồng ý. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy mâu thuẫn vợ chồng đã căng thẳng, đời sống chung thực tế không tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị B xin ly hôn anh Nguyễn Xuân H là phù hợp với điều kiện thực tế của các bên, phù hợp với quy định tại Điều 56 luật Hôn nhân và Gia đình.
[3] Về quan hệ con chung và tài sản chung: Chị Lê Thị B và anh Nguyễn Xuân H thống nhất trình bày vợ chồng không có con chung và tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về án phí và chi phí tố tụng: Chị Lê Thị B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và các chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.
[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 153; khoản 1 Điều 228; các Điều 469, 474, 475; điểm a khoản 5 Điều 477; Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBNTVQH ngày 30/12/2016 của Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị B được ly hôn anh Nguyễn Xuân H. Hôn nhân của chị Lê Thị B và anh Nguyễn Xuân H chấm dứt kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về án phí sơ thẩm: Chị Lê Thị B phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí và lệ phí đã nộp tại biên lai số 31AA/2021/0005596 ngày 17/10/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình (chị B đã nộp đủ).
3. Về chi phí tố tụng: Chị Lê Thị B phải chịu chi phí ủy thác tư pháp và giám định chữ ký, chữ viết với số tiền 4.213.000 đồng (chị B đã nộp đủ và chi phí hết).
Án sơ thẩm xử công khai, chị Lê Thị B có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh Nguyễn Xuân H có quyền kháng cáo trong hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đã ký |
|
Dương Viết Hải |
|
Bản án số 77/2024/HNGĐ-ST ngày 25/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH về ly hôn
- Số bản án: 77/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/10/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử cho chị Lê Thị B được ly hôn anh Nguyễn Xuân H. Hôn nhân của chị Lê Thị B và anh Nguyễn Xuân H chấm dứt kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.
