Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĨNH BẢO

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2024/HS-ST

Ngày 24-10-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Vũ Văn Thắng

Các Hội thẩm nhân dân:

Nguyễn Thị Tâm

Phạm Thị Khanh

- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Viết Hoàn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

- Người tiến hành tố tụng khác tại điểm cầu thành phần: Bà Phạm Thị Ly Ly - Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Đào Duy Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 10 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm (trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng) và điểm cầu thành phần (Nhà tạm giữ, tạm giam Công an huyện V, thành phố Hải Phòng), Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 75/2024/TLST - HS ngày 03 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn D, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1973, tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn E, xã G, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị N; bị cáo có vợ là Phạm Thị C và 02 con; tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm 42/2022/HS-ST ngày 29/8/2022 của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo xử phạt Nguyễn Văn D 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý (chưa được xoá án tích), tiền sự: Không; nhân thân: Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 12/QĐ-TA ngày 25-9-2020 của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo đối với Nguyễn Văn D trong thời hạn 12 tháng đã chấp hành xong (được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính); bị tạm giữ từ ngày 21-6-2024 đến ngày 26-6-2024 chuyển tạm giam đến nay; có mặt.

- Người chứng kiến: Ông Nguyễn Xuân G; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 15 giờ ngày 21-6-2024, Nguyễn Văn D một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 34L4-5101 ra khu vực đường T, Quận L, thành phố Hải Phòng để tìm mua ma tuý về sử dụng. Tại đây, D gặp và mua 150.000 đồng ma túy Heroin của một người nam giới (không rõ lai lịch, địa chỉ). Người nam giới này đưa cho D 01 gói giấy màu trắng chứa ma tuý Heroin, D nhặt một mảnh giấy ở dưới đất gần đó bọc ngoài gói ma tuý vừa mua được để ma tuý không bị ẩm ướt. Doanh cầm gói ma tuý ở lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe đi về nhà. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, khi D về đến khu vực thôn D, xã G, huyện V thì bị lực lượng Công an huyện V tiến hành kiểm tra, lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang và thu giữ các vật chứng như nêu trên.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn D tại thôn E, xã G, huyện V, thành phố Hải Phòng nhưng không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.

Tại Bản kết luận giám định số 818/KL - KTHS ngày 25-6-2024 của Phòng K Công an thành phố H thể hiện: “Chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,07 gam, loại Heroine".

Về vật chứng: Vỏ bao gói ma túy được niêm phong lại trong một bì giấy, dấu niêm phong số: 818MT/PC09 và chữ ký của những người có liên quan chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo quản lý.

Tại bản Cáo trạng số 80/CT-VKS ngày 02-10-2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn D đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Văn D từ 15 đến 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy vỏ bao gói ma túy được niêm phong lại trong một bì giấy, dấu niêm phong số: 818MT/PC09. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Tại lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 21-6-2024, tại khu vực thôn D, xã G, huyện V, thành phố Hải Phòng, Nguyễn Văn D có hành vi cất giấu trái phép trên người 0,07 gam ma túy, loại Heroine với mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang. Bản thân Nguyễn Văn D là người đã bị kết án về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo truy tố bị cáo Nguyễn Văn D là đúng người, đúng quy định pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo. Do vậy bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về tính chất vụ án và hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Tệ nạn ma túy đang là hiểm họa lớn đối với toàn xã hội, đe dọa, gây tác hại xấu cho sức khỏe con người, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và là tác nhân dễ làm phát sinh nhiều loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và đặc điểm nhân thân của bị cáo. Căn cứ hành vi phạm tội, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo như đã phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian trên mức khởi điểm của khung hình phạt như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa mới đủ tác dụng cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể bị phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp.

[7] Về vật chứng: Đối với vỏ bao gói có chứa ma túy là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[8] Đối với 01 chiếc xe mô tô Biển kiểm soát 34L4 - 5101 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V thu giữ của bị cáo. Theo bị cáo khai đây là chiếc xe bị cáo mượn của chị Ôn Thị Nguyệt M (con dâu Doanh). Quá trình điều tra xác định xe môtô biển kiểm soát 34L4-5101 chị Ôn Thị Nguyệt M, sinh năm 1992 ở thôn D, xã G, huyện V mua của chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1970 ở thôn E, xã G, huyện V, chị H1 mua xe môtô này của một người không quen biết năm 2015. Do chưa làm rõ được chủ sở hữu hợp pháp của xe môtô biển kiểm soát 34L4-5101 nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý sau.

[9] Trong vụ án này còn có người nam giới bán ma túy cho D tại khu vực đường T thuộc Quận L, thành phố Hải Phòng, hiện chưa xác định được căn cước, lai lịch nên không có căn cứ xử lý. Đối với chị Ôn Thị Nguyệt M là người cho D mượn xe nhưng không biết D sử dụng xe để đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý.

[10] Về án phí: Theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21-6-2024.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy vỏ bao chứa ma túy, được niêm phong lại trong một bì giấy, dấu niêm phong số: 818MT/PC09 và chữ ký của những người có liên quan được hoàn lại sau giám định (theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 09-10-2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội; bị cáo Nguyễn Văn D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hải Phòng;
  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - VKSND huyện Vĩnh Bảo;
  • - Sở Tư pháp TP Hải Phòng;
  • - Công an TP Hải Phòng (PV06, PC10);
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Vĩnh Bảo;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện Vĩnh Bảo;
  • - Chi cục THADS huyện Vĩnh Bảo;
  • - Nhà tạm giữ, tạm giam Công an huyện Vĩnh Bảo, TP Hải Phòng;
  • - UBND xã Giang Biên, huyện Vĩnh Bảo;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: HCTP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Văn Thắng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 77/2024/HS-ST ngày 24/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 77/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn D - Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger