|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 77/2024/HS-ST Ngày 22 – 10 – 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Hoàng Hào.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Kim Quy.
Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huyền Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng An – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 79/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
- Ngô Công V. Sinh năm 1993 tại huyện N, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm G, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Công S và bà Nguyễn Thị T; Có vợ họ tên: Nguyễn Thị H và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 29/7/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn xử phạt 5 tháng tù giam và phạt tiền 5.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” (Chấp hành xong bản án ngày 17/9/2015); Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/7/2024 đến ngày 16/7/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện N thì được tại ngoại. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/7/2024 đến hiện nay. Có mặt.
· Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Anh Nguyễn Tương T1. Sinh năm 1992. Nơi cư trú: Xóm X, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Hữu V1. Sinh năm 1991. Nơi cư trú: Xóm E, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Đình H1. Sinh năm 1990. Nơi cư trú: Xóm G, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Kim Q. Sinh năm 1985. Nơi cư trú: Xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ tháng 9/2023 đến tháng 7/2024, Ngô Công V đã thực hiện hành vi cho vay với lãi suất 3.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày (tức là lãi suất 108%/năm, cao hơn 5,4 lần so với lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015), cụ thể là:
Hành vi thứ nhất: Ngô Công V cho anh Nguyễn Tương T1 vay tiền:
Do quen biết nhau, cần tiền tiêu dùng nên vào khoảng tháng 9 năm 2023, anh Nguyễn Tương T1 gọi điện bằng ứng dụng Zalo cho Ngô Công V để vay số tiền 25.000.000 đồng. V đồng ý cho vay và yêu cầu trả lãi suất là 3.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày (tức là 2.250.000 đồng/tháng) và thỏa thuận trả lãi vào ngày 28 hàng tháng. Tuy nhiên, giữa V và anh T1 thỏa thuận chỉ trả cho nhau số tiền lãi 2.200.000 đồng/mỗi tháng nên từ tháng 10/2023 đến ngày 9/7/2024 anh T1 phải trả cho Ngô Công V số tiền lãi là: (2.200.000 đồng x 09 tháng) + (25.000.000 đồng x 3.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày x 11 ngày) = 19.800.000 đồng + 825.000 đồng = 20.625.000 đồng.
Đối với khoản vay này, số tiền lãi hợp pháp tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015 (20%/năm) là: (25.000.000 đồng x 20% x 9 tháng/12 tháng) + (25.000.000 đồng x (20%/12 tháng/30 ngày x 11 ngày) = 3.902.777 đồng.
Vì vậy, số tiền V thu lợi bất chính thông qua việc cho anh T1 vay là: 20.625.000 đồng – 3.902.777 đồng = 16.722.223 đồng.
Hành vi thứ hai: Ngô Công V cho anh Nguyễn Hữu V1 vay tiền:
Vào khoảng tháng 9/2023, do cần tiền chi tiêu cá nhân nên anh Nguyễn Hữu V1 đã hỏi vay Ngô Công V số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất thỏa thuận là 3.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày (tức là 900.000 đồng/tháng) và thỏa thuận trả lãi vào ngày 15 hàng tháng. Khi đưa tiền cho anh V1, V đã trừ tiền lãi tháng đầu tiên nên anh V1 chỉ nhận được 9.100.000 đồng.
Ngày 13/10/2023, anh V1 tiếp tục gọi điện hỏi vay V số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất như trên nên V đã gộp cả hai khoản vay tổng là 20.000.000 đồng, (tức là 1.800.000 đồng/tháng) đồng thời trừ tiền lãi tháng này còn 8.200.000 đồng và sử dụng điện thoại di động Iphone 15 Pro Max, màu xám, gắn thẻ sim số thuê bao 0978136777 đăng nhập ứng dụng Internetbanking của Ngân hàng T3 có số tài khoản 19036214985018 chuyển số tiền này đến số tài khoản 104870372837, Ngân hàng V3 của anh V1. Từ tháng 10/2023 đến tháng 12/2023 anh V1 đã trả lãi được 3 tháng.
Ngày 17/12/2023, anh V1 tiếp tục vay số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất như trên nên V đưa tiền mặt cho anh V1 và gộp ba khoản vay, tổng là 25.000.000 đồng, (tức là 2.250.000 đồng/tháng). Đến tháng 7/2024 thì anh V1 đã trả lãi được 6 tháng.
Do đó, trong khoảng thời gian từ tháng 9/2023 đến ngày 09/7/2024 anh V1 phải trả cho V tổng số tiền là: 900.000 đồng + 1.800.000 x 3 tháng + 2.250.000 đồng x 6 tháng + (25.000.000 đồng x 3.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày x 24 ngày) = 21.600.000 đồng.
Đối với khoản vay này, số tiền lãi hợp pháp tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015 (20%/năm) là: (10.000.000 đồng x 20%/12 tháng) + (20.000.000 đồng x (20%/12 tháng x 03 tháng)) + (25.000.000 đồng x (20%/12 tháng x 06 tháng)) +(25.000.000 đồng x 20%/12 tháng/30 ngày x 24 ngày) = 3.999.999 đồng (Ba triệu chín trăm chín mươi chín nghìn chín trăm chín mươi chín đồng).
Vì vậy, số tiền V thu lợi bất chính thông qua việc cho anh V1 vay là: 21.600.000 đồng - 3.999.999 đồng = 17.600.001 đồng.
Hành vi thứ ba: Ngô Công V cho anh Nguyễn Đình H1 vay tiền:
Vào các ngày 21/02/2024, 24/02/2024, 05/3/2024, 08/3/2024, 09/3/2024, 12/3/2024, 18/3/2024, 20/3/2024 và ngày 28/4/2024, Ngô Công V cho anh Nguyễn Đình H1 vay tiền 9 lần, mỗi lần 30.000.000 đồng với lãi suất là 3.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày (tức là 2.700.000 đồng/tháng). Mỗi lần cho vay V đều trừ lãi hàng tháng rồi đăng nhập ứng dụng Internetbanking của Ngân hàng T3 số tài khoản 19036214985018 chuyển đến số tài khoản 109873594164, Ngân hàng V3 của anh H1 số tiền 27.300.000 đồng. Do anh H1 vay tiền rồi trả ngay trong ngày nên mỗi lần V chỉ lấy của anh H1 700.000 đồng tiền lãi. Ngày 06/4/2024, V cho anh H1 vay số tiền 60.000.000 đồng với lãi suất 3.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày (tức là 5.400.000 đồng/tháng). Sau khi trừ số tiền lãi mà anh H1 phải trả của tháng đầu tiên, V đã chuyển số tiền 54.600.000 đồng qua số tài khoản ngân hàng của anh Nguyễn Kim Q để cho anh H1 vay. Đến ngày 23/4/2024, anh H1 đã trả cho V số tiền 59.000.000 đồng nhưng vì chưa đủ thời gian một tháng nên anh H1 chỉ trả 4.400.000 đồng tiền lãi.
Như vậy, trong khoảng thời gian từ ngày 21/2/2024 đến ngày 23/4/2024, anh H1 đã trả cho V số tiền lãi cho các khoản vay là: 700.000 đồng x 09 lần + 4.400.000 đồng = 10.700.000 đồng.
- + Đối với các ngày 21/02/20224, ngày 24/02/2024, ngày 05/3/2024, ngày 08/3/2024, ngày 18/3/2024 và ngày 20/3/2024, anh H1 vay rồi trả ngay trong ngày nên số tiền lãi hợp pháp tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015 (20%/năm) là: 30.000.000 đồng x 20% /12 tháng/30 ngày x 6 lần = 99.996 đồng.
- + Đối với các ngày 09/3/2024, ngày 12/3/2024, anh H1 vay rồi trả trong ngày hôm sau nên số tiền lãi hợp pháp tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015 (20%/năm) là: 30.000.000 đồng x 20%/12 tháng/30 ngày x 2 ngày x 2 lần = 66.666 đồng.
- + Đối với khoản vay ngày 28/4/2024, anh H1 trả ngày 06/5/2024 (tức là vay 9 ngày) nên số tiền lãi hợp pháp tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015 (20%/năm): 30.000.000 đồng x 20% /12 tháng/30 ngày x 9 ngày = 150.000 đồng.
- + Đối với khoản vay ngày 06/4/2024, anh H1 trả ngày 23/4/2024 (tức là vay 18 ngày) số tiền lãi hợp pháp tính theo mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015 (20%/năm): 60.000.000 đồng X 20%/12 tháng/30 ngày x 18 ngày = 600.000 đồng.
Tổng số tiền lãi hợp pháp mà V được hưởng theo quy định của pháp luật đối với 10 khoản vay nói trên là: 99.996 đồng + 33.333 đồng x 02 tháng + 150.000 đồng + 600.000 đồng = 916.662 đồng.
Vì vậy, số tiền Ngô Công V thu lợi bất chính thông qua việc cho anh Nguyễn Đình H1 vay là: 10.700.000 đồng – 916.662 đồng = 9.783.338 đồng.
Như vậy, trong khoảng thời gian từ tháng 10/2023 đến ngày 09/7/2024, Ngô Công V đã cho anh Nguyễn Tương T1, anh Nguyễn Hữu V1 và anh Nguyễn Đình H1 vay tổng số tiền 380.000.000 đồng (Ba trăm tám mươi triệu đồng) với lãi suất 3.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày (tương đương 108%/năm), thu lợi bất chính tổng số tiền là: 16.722.223 đồng + 17.600.001 đồng + 9.783.338 đồng = 44.105.562 đồng.
Bản Cáo trạng số: 88/CT-VKSNĐ ngày 02/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn truy tố bị cáo Ngô Công V về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung cáo trạng, luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1 Điều 201; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Ngô Công V mức phạt tiền từ 55.000.000 đồng đến 65.000.000 đồng về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Về vật chứng và truy thu:
Tịch thu và nộp ngân sách Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax, màu xám, gắn sim có số thuê bao 0978136777, số Imeil: 3553195494777774, imei2: 355319548263180; máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng.
Truy thu để nộp ngân sách Nhà nước tại bị cáo Ngô Công V số tiền 330.000.000 đồng + 8.333.328 đồng + 9.783.338 đồng = 348.116.666 đồng.
Truy thu để nộp ngân sách Nhà nước tại anh Nguyễn Tương T1 số tiền gốc 25.000.000 đồng và 333.333 đồng tiền lãi. Tổng cộng: 25.333.333 đồng
Truy để nộp ngân sách Nhà nước tại anh Nguyễn Hữu V1 số tiền 25.000.000 đồng và 152.777 đồng. Tổng cộng: 25.152.777 đồng.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý với nội dung bản cáo trạng, bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có tranh luận gì.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.
[2] Về việc vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng đều có đơn xin xét xử vắng mặt, có lời khai đầy đủ tại hồ sơ vụ án nên việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử, do đó Hội đồng xét xử vắng mặt là đúng quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Về hành vi và tội danh: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng từ tháng 9/2023 đến ngày 9/7/2024, tại xóm G, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, Ngô Công V đã có hành vi cho anh Nguyễn Tương T1 vay số tiền 25.000.000 đồng, anh Nguyễn Hữu V1 vay số tiền 25.000.000 đồng và anh Nguyễn Đình H1 vay số tiền 330.000.000 đồng, tổng số tiền V cho vay là 380.000.000 đồng với lãi suất 3.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày (tức lãi suất 108%/năm, cao gấp 5,4 lần so với lãi suất cao nhất quy định tại của Bộ luật Dân sự năm 2015), qua đó thu lợi bất chính số tiền: 44.105.562 đồng. Hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[4] Về áp dụng hình phạt chính: Vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực tài chính, tín dụng, không những làm mất trật tự an toàn xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, làm cho các gia đình người vay tiền lâm vào cảnh khó khăn, túng quẫn về kinh tế. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức được hành vi cho vay lãi nặng là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lợi, coi thường pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội nên cần xử nghiêm. Bị cáo thực hiện ba hành vi cho vay lãi nặng nhưng các lần thu lợi bất chính dưới 30.000.000 đồng nhưng tổng số tiền thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng trở lên nên bị cáo không phải tình tiết tăng nặng “phạm tội 2 lần trở lên” là đúng quy định tại khoản 2 Điều 7 của Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Tuy nhiên, cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt do bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đầu thú. Bị cáo có bố đẻ là ông Ngô Công S được Trung tâm G và lịch sử vinh danh và tặng Kỷ niệm chương “Chiến sĩ Quân tình nguyện Việt Nam giúp cách mạng Campuchia” vì đã có thành tích xuất sắc trong hoạt động giáo dục truyền thống lịch sử của dân tộc. Ông nội Ngô Công T2 và bà nội Nguyễn Thị N được Chủ tịch UBND tỉnh N tặng Bằng khen vì đã có thành tích tham gia trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét thấy áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, đủ nghiêm.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo đã bị áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng, truy thu và trách nhiệm dân sự:
01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 promax, màu xám, gắn sim có số thuê bao 0978136777, số Imeil: 3553195494777774, imei2: 355319548263180; máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng. Bị cáo sử dụng làm phương tiện, công cụ phạm tội, còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu và nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với tổng số tiền gốc 380.000.000 đồng bị cáo Ngô Công V cho Nguyễn Tương T1, Nguyễn Hữu V1 và Nguyễn Đình H1 vay, đây là công cụ phương tiện phạm tội cần tịch thu và nộp ngân sách Nhà nước. Quá trình điều tra và tại phiên tòa chứng minh được: Nguyễn Đình H1 đã trả số tiền vay 330.000.000 đồng cho Ngô Công V nên cần truy thu tại bị cáo V để nộp ngân sách Nhà nước. Đối với số tiền gốc vay 25.000.000 đồng tiền gốc và 333.333 đồng tiền lãi anh Nguyễn Tương T1 vay của bị cáo V số tiền gốc 25.000.000 đồng và tiền lãi 152.777 đồng Nguyễn Hữu V2 vay của bị cáo V. Cả anh T1 và anh V1 chưa trả lại cho bị cáo V nên cần truy thu tại anh T1 số tiền 25.000.000 đồng tiền gốc và 333.333 đồng tiền lãi, truy thu tại anh V1 số tiền gốc 25.000.000 đồng và tiền lãi 152.777 đồng, để nộp ngân sách Nhà nước.
Số tiền lãi hợp pháp theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 mà Ngô Công V được hưởng từ ba người vay là 8.333.328 đồng, bị cáo V chưa giao nộp. Xét thấy đây là số tiền phát sinh từ hành vi phạm tội mà có cần truy thu tại bị cáo Ngô Công V và nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với khoản tiền lãi bị cáo V thu lợi bất chính từ Nguyễn Tương T1 số tiền 16.050.000 đồng, thu lợi bất chính từ Nguyễn Hữu V1 số tiền 16.133.334 đồng. Cả anh T1 và anh V1 sử dụng khoản vay tiền vào mục đích hợp pháp. Theo quy định tại khoản 2 Điều 5 của Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao bị cáo V trả lại cho người vay là anh V1 và anh T1. Quá trình điều tra và tại đơn giải quyết vắng mặt cả T1 và V1 đều không yêu cầu bị cáo V trả lại nên Hội đồng xét xử không xem xét, trường hợp T1 và V1 có đơn yêu cầu thì giải quyết bằng vụ án dân sự khác.
Đối với khoản tiền lãi bị cáo V thu lợi bất chính từ Nguyễn Đình H1 9.783.338 đồng, lời khai của anh H1 sử dụng khoản tiền vay từ bị cáo V vào mục đích bất hợp pháp nên theo quy định tại khoản 2 Điều 5 của Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần truy thu số tiền này tại bị cáo V để nộp ngân sách Nhà nước.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 201; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Ngô Công V số tiền 55.000.000 đồng (Năm mươi lăm triệu đồng) về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
2.1. Tịch thu và nộp ngân sách Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax, màu xám, gắn sim có số thuê bao 0978136777, số Imeil: 3553195494777774, imei2: 355319548263180; máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng.
(Đặc điểm tình trạng của vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/10/2024 giữa Công an huyện N và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An).
2.2. Các khoản tiền truy thu:
- - Truy thu để nộp ngân sách Nhà nước tại bị cáo Ngô Công V số tiền 330.000.000 đồng (Ba trăm ba mươi triệu đồng).
- - Truy thu để nộp ngân sách Nhà nước tại bị cáo Ngô Công V tại bị cáo Ngô Công V số tiền 8.333.328 đồng (Tám triệu, ba trăm ba mươi ba nghìn, ba trăm hai mươi tám đồng).
- - Truy thu để nộp ngân sách Nhà nước tại bị cáo Ngô Công V tại bị cáo Ngô Công V số tiền 9.783.338 đồng (Chín triệu, bảy trăm tám mươi ba nghìn, ba trăm ba mươi tám đồng).
- Tổng số tiền truy thu tại bị cáo Ngô Công V là 348.116.666 đồng (Ba trăm bốn mươi tám triệu, một trăm mười sáu nghìn, sáu trăm sáu mươi sáu đồng).
- - Truy thu để nộp ngân sách Nhà nước tại anh Nguyễn Tương T1 số tiền gốc 25.000.000 đồng và 333.333 đồng tiền lãi. Tổng cộng: 25.333.333 đồng (Hai mươi lăm triệu, ba trăm ba mươi nghìn, ba trăm ba mươi ba đồng).
- - Truy để nộp ngân sách Nhà nước tại anh Nguyễn Hữu V1 số tiền 25.000.000 đồng và 152.777 đồng. Tổng cộng: 25.152.777 đồng (Hai mươi lăm triệu, một trăm năm mươi hai nghìn, bảy trăm bảy mươi bảy đồng).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Ngô Công V phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Ngô Công V có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
5. Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vương Hoàng Hào |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Phạm Thị Kim Quy Nguyễn Thị Thu Hiền |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vương Hoàng Hào |
Bản án số 77/2024/HS-ST ngày 22/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 77/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngo Cong Vinh - Cho vay lai nang
