Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CAO LÃNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2024/HS-ST

Ngày 14-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Văn Phong.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Phú Hữu.
  2. Ông Nguyễn Hồng Thơ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vũ Hải là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Hương, ông Huỳnh Hữu Phú - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 74/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 552/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn T, sinh năm 1978, tại An Giang; Nơi thường trú: Tổ A, ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Con ông: Trần Văn H1 (đã chết) và bà: Nguyễn Thị L, sinh năm 1949; Vợ tên : Nguyễn Thị Bé S, sinh năm 1981; Con: có 02 người con, lớn sinh năm 2000 và nhỏ sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Không; Biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng: Huỳnh Văn Y, sinh năm 1972 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Văn T nhiều năm lái tàu thuê nhưng do không biết chữ nên T không đủ điều kiện đăng ký thi lấy bằng thuyền trưởng. Đến khoảng tháng 4/2021, thông qua mạng xã hội zalo T biết có người nhận làm giả Giấy chứng nhận khả năng chuyên môn thuyền trưởng hạng T3 (Bằng thuyền trưởng), T đã liên lạc cung cấp hình ảnh, thông tin cá nhân cho một người thanh niên (không rõ nhân thân, địa chỉ) với mục đích thuê làm bằng thuyền trưởng để sử dụng. Sau khi đặt làm khoảng 10 ngày, T nhận được Giấy chứng nhận khả năng chuyên môn thuyền trưởng hạng T3 từ một người giao hàng và đưa cho người này số tiền là 5.000.000 đồng, do không biết chữ nên T chỉ nhìn trên giấy chứng nhận khả năng chuyên môn thuyền trưởng hạng T3 có dán hình của mình không biết trên giấy ghi sai tên “T” thành “T1” nên cất giữ để sử dụng. Khoảng đầu năm 2024, T đến gặp ông Huỳnh Văn Y là người cùng quê tại xã M, huyện C, tỉnh An Giang để xin lái tàu thuê thì được ông Y đồng ý thuê với số tiền là 15.000.000 đồng/tháng, giao cho T lái tàu số hiệu AG-23123, công suất 120CV, trọng tải 148 tấn.

Ngày 07/3/2024, ông Y yêu cầu T điều khiển tàu số hiệu AG-23123 của ông để chở thuê đất cho khách từ Long An về An Giang, khi T điều khiển tàu trên tuyến sông T thuộc ấp P, xã P, huyện H, tỉnh Đồng Tháp thì bị Trạm Cảnh sát đường thủy H2 thuộc Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Đ phát hiện một số vi phạm gồm: Chở hàng hoá (chở đất) quá vạch dấu mớn nước an toàn đến 1/5 chiều cao mạn khô của phương tiện, thuyền viên không có Giấy chứng nhận khả năng chuyên môn thuyền trưởng hạng 3 theo quy định, sử dụng Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường hết hiệu lực nên tiến hành lập biên bản tạm giữ Giấy chứng nhận đăng ký phương tiện thủy nội địa số 23125/ĐK do Sở giao thông vận tải tỉnh A cấp ngày 31/3/2022.

Đến ngày 13/3/2024, T đến Phòng C Công an tỉnh Đ để giải quyết lỗi vi phạm, tại đây T đã xuất trình Căn cước công dân số [...], họ và tên “Trần Văn T” và Giấy chứng nhận khả năng chuyên môn thuyền trưởng phương tiện thủy nội địa hạng T3, có số bìa AC: 00052576, số 00005256.CC; Họ và tên: “Trần Văn T1”, sinh ngày 01/01/1978, ngụ ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang, do Cục Đ cấp ngày 24/6/2021, có giá trị đến 24/6/2026. Qua kiểm tra, nghi vấn Giấy chứng nhận này có dấu hiệu làm giả nên Phòng C đường bộ đã tiến hành tạm giữ và trưng cầu giám định giấy chứng nhận.

Tại Kết luận giám định số 329/KL-KTHS ngày 25/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận: Giấy chứng nhận khả năng chuyên môn thuyền trưởng phương tiện thủy nội địa hạng T3, số AC: 00052576; Họ và tên: Trần Văn T1 là giả.

Xác định có dấu hiệu tội phạm nên ngày 02/4/2024, Phòng C Công an tỉnh Đ đã chuyển toàn bộ hồ sơ vụ việc đến Cơ quan Cảnh điều tra Công an thành phố C để điều tra, xác minh làm rõ.

Đối với ông Huỳnh Văn Y không biết bị cáo T sử dụng Giấy chứng nhận khả năng chuyên môn thuyền trưởng hạng T3 giả để lái tàu thuê cho Y nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý; đồng thời ngày 07/5/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại Giấy chứng nhận đăng ký phương tiện thủy nội địa số 23125/ĐK cho ông Y.

Trong quá trình điều tra bị cáo Trần Văn T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung đã nêu trên; phù hợp với kết luận giám định; vật chứng thu giữ; lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án.

Tại Cáo trạng số 73/CT-VKS-TPCL ngày 25/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh đã truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đồng thời đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Về tội danh: Áp dụng Điều 341 của Bộ luật Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức".
  • - Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn T với mức án từ 06 tháng đến 01 năm cải tạo không giam giữ.
  • - Về phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập không ổn định nên không phạt bổ sung bằng tiền và miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
  • - Về xử lý vật chứng như cáo trạng đã nêu.

* Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Bản Cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo không tranh luận gì với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát thành phố C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, mọi hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo. Lời khai của bị cáo tại phiên toà, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với kết luận giám định, các tài liệu chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở xác định:

Vào năm 2021, T đã đặt mua 01 Giấy chứng nhận khả năng chuyên môn thuyền trưởng phương tiện thủy nội địa hạng T3 giả, với giá 5.000.000 đồng để sử dụng. Ngày 07/3/2024, khi T đang điều khiển tàu số hiệu AG-23123 lưu thông trên tuyến sông T thuộc ấp P, xã P, huyện H, tỉnh Đồng Tháp thì bị Trạm Cảnh sát đường thủy H2 thuộc Phòng C Công an tỉnh Đ, kiểm tra phương tiện phát hiện nhiều lỗi vi phạm nên tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính. Đến ngày 13/3/2024, T đến Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Đ xuất trình Giấy chứng nhận khả năng chuyên môn thuyền trưởng phương tiện thủy nội địa hạng T3, số AC: 00052576, số 00005256.CC; Họ và tên: Trần Văn T1, sinh ngày 01/01/1978, ngụ ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang là giấy chứng nhận giả nhằm mục đích lừa dối, đối phó với lực lượng Cảnh sát giao thông. Tại Kết luận giám định số 329/KL-KTHS ngày 25/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận: Giấy chứng nhận khả năng chuyên môn thuyền trưởng phương tiện thủy nội địa hạng T3, số AC: 00052576; Họ và tên: Trần Văn T1 là giả.

Tại phiên tòa, bị cáo thống nhất với tội danh mà cáo trạng đã truy tố; bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận lời luận tội của Kiểm sát viên là đúng người, đúng tội, đúng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.

Bị cáo là người đã thành niên, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; thực hiện hành vi với lỗi cố ý, trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính. Bị cáo không biết chữ nên không thể thi sát hạch để được cấp Giấy chứng nhận khả năng chuyên môn thuyền trưởng phương tiện thủy nội địa hạng T3 và biết Giấy chứng nhận khả năng chuyên môn thuyền trưởng phương tiện thủy nội địa hạng T3, số AC: 00052576; Họ và tên: Trần Văn T1 là giả nhưng vẫn sử dụng nhằm mục đích lừa dối, qua mặt cơ quan có thẩm quyền để được bỏ lỗi vi phạm hành chính khi tham gia giao thông đường thủy.

Trong phần tranh luận tại phiên tòa, lời luận tội của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa cho rằng bị cáo phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” như Cáo trạng đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ.

Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận bị cáo đã phạm vào tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.

Điều 341 Tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức quy định:

“1. Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm.

2...."

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng đến hoạt động đúng đắn, bình thường của cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước một cách trái pháp luật. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.

[3] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết:

  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng và hành vi phạm tội của bị cáo chưa gây thiệt hại, nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo mà chỉ áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đã đủ răn đe, giáo dục, đồng thời tạo điều kiện để bị cáo tự cải tạo, lao động, học tập trở thành người tốt có ích cho gia đình và xã hội.

[4] Do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập không ổn định nên không phạt bổ sung bằng tiền và miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 (một) Giấy chứng nhận khả năng chuyên môn thuyền trưởng phương tiện thủy nội địa hạng T3, số AC: 00052576, số 00005256.CC; Họ và tên: Trần Văn T1, sinh ngày 01/01/1978, ngụ ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang, Cục Đ cấp ngày 24/6/2021, có giá trị đến 24/6/2026, đây là vật chứng cần tịch thu, lưu hồ sơ vụ án. (Hiện vật chứng đang lưu kèm hồ sơ vụ án).

[6] Các vấn đề khác: Đối với người đã làm giả Giấy chứng nhận khả năng chuyên môn thuyền trưởng phương tiện thủy nội địa hạng T3 cho bị cáo T có dấu hiệu của T2 làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức nhưng do không rõ nhân thân, địa chỉ nên chưa làm việc được, khi nào xác minh điều tra được sẽ xử lý bằng một vụ án khác.

[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh tại phiên tòa, như đã phân tích nêu trên là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự.
  2. Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức".

    Xử phạt bị cáo Trần Văn T 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ.

    Thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện C, tỉnh An Giang nhận được quyết định thi hành án.

    Giao bị cáo Trần Văn T cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo Trần Văn T có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh An Giang trong việc giám sát, giáo dục bị cáo Trần Văn T.

    Trong thời gian chấp hành án, người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ.

    Bị cáo Trần Văn T được miễn khấu trừ thu nhập do không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  4. Tịch thu, lưu hồ sơ vụ án: 01 (một) Giấy chứng nhận khả năng chuyên môn thuyền trưởng phương tiện thủy nội địa hạng T3, số AC: 00052576, số 00005256.CC; Họ và tên: Trần Văn T1, sinh ngày 01/01/1978, ngụ ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang, Cục Đ cấp ngày 24/6/2021, có giá trị đến 24/6/2026. (Hiện vật chứng đang lưu kèm hồ sơ vụ án).

  5. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
  6. Buộc bị cáo Trần Văn T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - VKSND TPCL;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - CQĐT Công an TPCL;
  • - CQTHAHS Công an TPCL;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Văn Phong

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 77/2024/HS-ST ngày 14/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

  • Số bản án: 77/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger