Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NINH KIỀU

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Bản án số: 77/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 09/9/2024

V/v “Tranh chấp ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Yến Nhi
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Bà Hồ Thị Kim Luyến
    2. Ông Trần Thanh Bình
  • - Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Diệp - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều: Bà Lê Hoàng Dung - Kiểm sát viên

Trong ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số: 133/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 660/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Phạm Vĩnh Duy N sinh năm: 1994 (có mặt)
  • Địa chỉ: Số A đường V (Mậu Thân cũ), P. A, Q. N, thành phố Cần Thơ.
  • - Bị đơn: Ông Bùi Vân T sinh năm: 1991 (Xin giải quyết vắng mặt)
  • ĐKTT: 173D/5 khu vực 1, P. A, Q. N, TP ..

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết, nguyên đơn bà Phạm Vĩnh Duy N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Bùi Vân T tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân P, Q. N, TP . vào ngày 14/02/2020 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 21 ngày 14/02/2020. Tháng 8/2022 bà được Công an mời lên hỗ trợ điều tra về vụ việc chồng bà là ông T lấy tiền của Công ty TNHH W. Trước đó bà hoàn toàn không biết gì về sự việc. Trong thời gian đợi điều tra bà đã rất nhiều lần hỏi ông T nhưng vẫn nhận được câu trả lời là không làm, không có lấy tiền. Ngày 26/10/2022, ông T bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an T1 khởi tố theo Quyết định số 720 – 01/QĐ-PC03-D9 và Lệnh bắt bị can để tam giam số 1034-04/LB-PC03-D9 ngày 26/10/2022. Hiện ông T đang bị tạm giam tại Trại tạm giam C - (Trại T, Củ Chi TP. H). Bà nhận thấy với trách nhiệm của ông T khi đã không trung thực với bà và pháp luật nên hạnh phúc của cuộc hôn nhân giữa bà và ông Bùi Vân T không đạt được tiếng nói chung. Nay tình cảm không thể nào gắn kết nên bà xin được ly hôn với ông Bùi Vân T.

  • - Về con chung: Trong thời gian chung sống bà và ông không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Phía bị đơn ông Bùi Vân T trong quá trình giải quyết, Tòa án đã tiến hành thu thập lời khai của ông. Ông có ý kiến như sau:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Ông thống nhất với lời trình bày của bà về thời gian đăng ký kết hôn, thời gian phát sinh mâu thuẫn và nguyên nhân mâu thuẫn. Nay bà N yêu cầu ly hôn ông đồng ý.
  • - Về con chung: không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Về tài sản chung và nợ chung: Ông và bà N không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa,

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn có đơn xin giải quyết vắng mặt và đã có lời khai đồng ý các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không có ý kiến gì thêm.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều phát biểu quan điểm: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của nguyên đơn và bị đơn. Cho thấy, yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận. Do đó, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1]Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Bà Phạm Vĩnh Duy N và ông Bùi Vân T tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, Q. N, TP . nên xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ và điều chỉnh khi có yêu cầu. Quá trình chung sống, bà N và ông T phát sinh mâu thuẫn nên bà N có đơn khởi kiện nên quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp ly hôn”, nhận thấy bị đơn có địa chỉ cư trú tại quận N nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Ninh Kiều theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

2]Về thủ tục tố tụng:

Trong quá trình giải quyết, bị đơn do đang chấp hành án tại Trại Giam B- Bình Dương nên có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

2

3]Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Bà N và ông T tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn và được UBND phường P, Q. N, TP. cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 14/02/2020. Ông bà chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Theo bà N thì nguyên nhân mâu thuẫn là do ông bà bất đồng quan điểm nên thường xuyên cãi nhau, cuộc sống không hạnh phúc, trách nhiệm của ông T khi đã không trung thực với bà và pháp luật nên hạnh phúc của cuộc hôn nhân giữa bà và ông Bùi Vân T không đạt được tiếng nói chung. Nay tình cảm không thể nào gắn kết nên bà và ông T đã sống ly thân. Nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn nên bà khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Bùi Vân T.

Theo Biên bản ghi lời khai ngày 20/8/2024 tại Trại Giam B - Bình Dương và đơn xin giải quyết vắng mặt cho thấy: Ông T thống nhất với lời trình bày của bà N về việc giữa ông và bà N đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do ông bà bất đồng quan điểm và đã sống ly thân. Do đó, bà N yêu cầu ly hôn với ông, ông đồng ý ly hôn.

Hội đồng xét xử xét thấy: Hôn nhân giữa bà N và ông T đã rạn nứt, mâu thuẫn trầm trọng, hôn nhân đã chấm dứt trên thực tế, ông bà đã sống ly thân, không có sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Do đó, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nếu tiếp tục kéo dài cũng không đem lại hạnh phúc cho bà N cũng như ông T. Mặt khác, phía ông T đồng ý ly hôn nên căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.

  • - Về con chung: Trong thời gian chung sống, ông bà không có con chung nên không đặt ra xem xét giải quyết.
  • - Về tài sản chung và nợ chung: Ghi nhận lời trình bày của bà N và ông T không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Khi nào có yêu cầu và phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.
  • - Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn bà Phạm Vĩnh Duy N phải chịu 300.000 đồng nhưng bà được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Bà đã nộp xong án phí.

Do đó, quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều là có căn cứ phải chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 207, điểm a khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

3

- Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2017/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Vĩnh Duy N.

  • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Vĩnh Duy N được ly hôn ông Bùi Vân T.
  • - Về con chung: không có.
  • - Về tài sản chung và nợ chung: Ghi nhận lời trình bày của bà N và ông T không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Khi nào có yêu cầu và phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.
  • - Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn bà Phạm Vĩnh Duy N phải chịu 300.000 đồng chuyển tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001099 ngày 27/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ thành án phí. Bà N đã nộp xong án phí.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết), để yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

*Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Q.Ninh Kiều;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Q.Ninh Kiều
  • - Tòa án nhân dân TP. Cần Thơ;
  • - UBND P. An Bình; Phạm Thị Yến Nhi
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Yến Nhi

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 77/2024/HNGĐ-ST ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 77/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Phạm Vĩnh Duy N được ly hôn ông Bùi Vân T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger