TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 77/2024/HNGĐ-ST Ngày 04-9-2024 Về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Đua
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Triệu Láth
Ông Sơn Khem
- Thư ký phiên tòa: Ông Tăng Hoàng Khang, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
Ngày 04 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 12/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thúy K, sinh năm 2002 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh.
- Bị đơn: Anh Ong Hoàng T, sinh năm 1995 (vắng mặt).
Địa chỉ: Khóm G, Phường B, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 27/5/2023, trong quá trình giải quyết vụ án và tại đơn xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn chị Trần Thúy K1 bày:
Chị và anh O Hoàng T1 tự nguyện sống chung với nhau như vợ chồng, có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn ngày 20/5/2020 tại UB, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. Thời gian đầu, chị và anh T chung sống rất hạnh phúc. Nhưng đến đầu năm 2022 thì chị và anh T phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong lối sống, tính cách, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc và anh T2 bỏ nhà đi từ đó cho đến nay.
Trong thời gian chung sống, chị và anh T có 01 con chung là cháu: Ong Trần Khánh A(giới tính: Nam), sinh ngày 13/9/2019 và hiện cháu A đang sống chung với chị.
Nay nhận thấy hạnh phúc gia đình tan vỡ, không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không thành nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
- - Về quan hệ hôn nhân: Được ly hôn với anh Ong Hoàng T3
- - Về con chung: Chị yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu O Trần Khánh A1(giới tính: Nam), sinh ngày 13/9/2019 cho đến khi cháu A đủ 18 tuổi.
- - Về tài sản chung: Tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Đối với bị đơn anh Ong Hoàng T đã được Tòa án thông báo và triệu tập hợp lệ từ khi thụ lý vụ án cho đến khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh T đều vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào đơn khởi kiện, biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đơn xin xét xử vắng mặt của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, bị đơn có địa chỉ tại khóm G, phường B, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Kể từ khi thụ lý vụ án đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” là đúng với quy định của pháp luật.
[3] Về thủ tục tố tụng: Đối với nguyên đơn chị Trần Thúy K có đơn xin xét xử vắng mặt, riêng đối với bị đơn anh Ong Hoàng T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm a và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn và bị đơn theo quy định của pháp luật.
[4] Về nội dung vụ án: Xét đơn yêu cầu về việc xin ly hôn của chị Trần Thúy K đối với anh Ong Hoàng T, Hội đồng xét xử xét thấy: Về quan hệ hôn nhân của chị K và anh T4 vi phạm các điều kiện kết hôn và sau khi sống chung với nhau hai người có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, tỉnh Sóc Trăng nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Xét thấy, mối quan hệ hôn nhân giữa chị K với anh T5 sinh mâu thuẫn do tính tình không hòa hợp, thiếu quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Tại đơn xin xét xử vắng mặt, chị K vẫn giữ nguyên nội dung yêu cầu xin được ly hôn với anh T3 Mặt khác, giữa chị K2 anh T hai người đã sống lý thân từ năm 2022 cho đến nay. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy tình trạng hôn nhân giữa các bên đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, châp nhận cho chị K được ly hôn với anh T3
[5] Về con chung: Đối với cháu OTrần Khánh A1(giới tính: Nam), sinh ngày 13/9/2019, hiện nay chị K là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục giao cháu A2 chị K tiếp tục nuôi dưỡng cháu A2 đến khi cháu A3 18 tuổi là phù hợp với quy định của pháp luật. Dành quyền thăm nom, giáo dục con chung cho anh T, không ai được cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con: chị K3 yêu cầu anh T6 dưỡng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6] Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[7] Trần Thúy K4 chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điều 5, khoản 1 Điều 28, Điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 143, Điều 144, khoản 4 Điều 147, điểm a và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 57, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thúy K được ly hôn với anh Ong Hoàng T
- Về con chung: Chị Trần Thúy K5 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên: Ong Trần Khánh A(giới tính: Nam), sinh ngày 13/9/2019 cho đến khi cháu A đủ 18 tuổi. Dành quyền thăm nom, giáo dục con cho anh T, không ai được cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị K3 yêu cầu anh T cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về án phí: Chị Trần Thúy K phải chịu là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng chị K được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003058, ngày 16 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu. Như vậy, chị K đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm. Anh Ong Hoàng T không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đặng Văn Đua |
Bản án số 77/2024/HNGĐ-ST ngày 04/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 77/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
