Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÍ LINH

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2024/HS-ST

Ngày: 19-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Luyến

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Hoa và bà Hoàng Thị Thu Thảo

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Giao – Thẩm tra viên Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh T - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 65/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Đoàn Văn Q, sinh năm 1974 tại U, Quảng Ninh;

    Nơi cư trú: Thôn M, xã T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Tăng P và bà Vũ Thị N; vợ là Nguyễn Hải Y, sinh năm 1979; có 02 con, con lớn sinh năm 1999, con nhỏ sinh năm 2005, tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

  2. Nguyễn Văn T1, sinh năm 1965 tại C, Hải Dương;

    Nơi cư trú: Thôn T, xã L, thành phố C, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị K (Đều đã chết); vợ là Nguyễn Thị L1, sinh năm 1965; có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1984, con nhỏ nhất sinh năm 1989, tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

Bị hại:

  • Cháu Nguyễn Văn Minh T2, sinh năm 2020 (Đã chết);

  • Người đại diện hợp pháp của cháu T2:

    Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1986 – Là bố đẻ;

    Chị Lương Thị P1, sinh năm 1994 – Là mẹ đẻ; Chị P1 uỷ quyền cho anh Nguyễn Văn T3.

    Đều trú tại: Thôn T, xã L, thành phố C, tỉnh Hải Dương

  • Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1965;

    Nơi cư trú: Thôn T, xã L, thành phố C, tỉnh Hải Dương

c, Những người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng: Ông Vũ Văn S, sinh năm 1966; bà Thân Thị Đ, sinh năm 1967; Chị Vũ Thị N1, sinh năm 1983;

Có mặt anh T3, ông T1.

Vắng mặt chị P1, ông S, bà Đ, chị N1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đoàn Văn Q (có giấy phép lái xe ô tô hạng C số [...] có giá trị đến ngày 26/5/2028) là lái xe theo hợp đồng lao động với Công ty Cổ phần T4, có địa chỉ khu X, phường X, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Chiều ngày 15/3/2024 Q điều khiển xe ô tô, nhãn hiệu THACO OLLIN, BKS 14C-165.98 đi đến khu vực thuộc thôn T, xã L, thành phố C, tỉnh Hải Dương để chở cây tre về cho công ty. Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, khi đến đoạn đường liên thôn T thuộc địa phận thôn T, xã L, thành phố C, do đi quá điểm cần dừng nên Q điều khiển xe ô tô lùi lại trên phần đường bên phải, theo hướng B đi Quốc lộ C. Đây là đoạn đường được trải nhựa bằng phẳng, lòng đường rộng 07 m. Giữa lòng đường có vạch kẻ nét đứt màu vàng phân chia đường thành 02 chiều xe chạy xuôi ngược. Lúc này trời mưa nhỏ, mật độ phương tiện tham gia giao thông thưa thớt. Q điều khiển xe ô tô lùi với tốc độ khoảng 05km/ giờ, có bật đèn xi nhan. Cùng thời điểm này, Nguyễn Văn T1 (có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số [...], có giá trị không thời hạn) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, BKS 34C1-257.19 chở theo cháu nội là Nguyễn Văn Minh T2, sinh năm 2020, trú tại thôn T, xã L, thành phố C ngồi ở phía trước di chuyển theo hướng Quốc lộ C đi B. T1 điều khiển xe mô tô trên phần đường bên phải, với vận tốc khoảng 30km/ giờ, khi cách xe ô tô BKS 14C-165.98 khoảng 05m, T1 phát hiện xe ô tô đang có tín hiệu xi nhan xin đường và lùi xe nên T1 đánh lái sang trái để tránh nhưng phần đầu xe mô tô BKS 34C1-257.19 vẫn va chạm vào đuôi xe bên trái của xe ô tô BKS 14C-165.98, làm T1 và cháu T2 ngã ra đường. Sau khi va chạm xe ô tô dừng lại (đầu xe quay hướng B, đuôi xe quay hướng Quốc lộ C), xe mô tô đổ nghiêng sang bên trái trên mặt đường, đầu xe hướng về phía Bắc A cách mép đường bên phải 03m, đuôi xe quay hướng Quốc lộ C cách mép đường bên phải 04m. Hậu quả cháu Nguyễn Văn M T2 tử vong trên đường đi cấp cứu do chấn thương bụng kín, Nguyễn Văn T1 bị thương tích, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 40%, xe ô tô BKS 14C-165.98 bị hư hỏng thiệt hại 1.200.000 đồng, xe mô tô BKS 34C1-257.19 bị hư hỏng thiệt hại 3.050.000 đồng.

Việc thu giữ đồ vật, tài liệu và xử lý vật chứng: Quá trình điều tra cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã thu giữ và trả lại xe ô tô BKS 14C-165.98 cho Công ty Cổ phần T4 và trả xe mô tô BKS 34C1-257.19 cho Nguyễn Văn T1.

Giấy phép lái xe hạng C số [...] mang tên Đoàn Văn Q và giấy phép lái xe hạng A1 số [...] mang tên Nguyễn Văn T1 đã được Cơ quan CSĐT Công an thành phố C thu giữ và lưu vào hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Q đã bồi thường cho gia đình cháu T2 và bị cáo T1, tổng số tiền 200.000.000 đồng. Bị cáo T1 đã hỗ trợ chi phí mai táng cho cháu T2, tổng số tiền 50.000.000 đồng. Gia đình cháu T2 không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Bị cáo T1 không yêu cầu bị cáo Q bồi thường thêm khoản tiền nào khác. Đại diện Công ty Cổ phần T4 sau khi nhận lại xe không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường khoản tiền nào khác.

Tại Cáo trạng số 74/CT-VKS-CL ngày 28/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Đoàn Văn Q và Nguyễn Văn T1 về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng, xin được hưởng mức án thấp nhất.

Đại diện VKSND thành phố Chí Linh giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn Q, Nguyễn Văn T1 phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

  2. Xử phạt bị cáo Đoàn Văn Q từ 12-15 tháng tù, cho hưởng án treo thời gian thử thách 24 - 30 tháng tính từ ngày tuyên án 19/8/2024.

  3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 12-15 tháng tù, cho hưởng án treo thời gian thử thách 24 - 30 tháng tính từ ngày tuyên án 19/8/2024.

    Giao bị cáo Q cho UBND xã T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, giao bị cáo T1 cho UBND xã L, thành phố C, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

  4. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.

  5. Về xử lý vật chứng:

    Trả lại bị cáo bị cáo Q giấy phép lái xe ô tô hạng C, số [...] và trả lại bị cáo T1 giấy phép lái xe hạng A1 số [...]

  6. Về án phí: Buộc các bị cáo Đoàn Văn Q và Nguyễn Văn T1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, VKSND thành phố Chí Linh, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan, biên bản khám nghiệm tử thi, bản kết luận giám định pháp y về tử thi, kết luận giám định thương tích và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Hồi 16 giờ 30 ngày 15/03/2024 tại đường liên thôn T thuộc địa phận thôn T, xã L, thành phố C, tỉnh Hải Dương, Đoàn Văn Q (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe ô tô nhãn hiệu THACO OLLIN, BKS 14C-165.98 lùi xe theo hướng B - Quốc lộ C, do lùi xe thiếu chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn nên phần đuôi xe ô tô đã va chạm với phần đầu xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade BKS 34C1-257.19 do Nguyễn Văn T1 (có giấy lái xe theo quy định) điều khiển đi phía sau theo hướng Quốc lộ C- B, trên xe chở cháu Nguyễn Văn Minh T2, T1 không tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn. Hậu quả cháu T2 tử vong trên đường đi cấp cứu, T1 bị thương tích tỷ lệ tổn thương cơ thể 40%, hai phương tiện bị hư hỏng nhẹ.

Đoàn Văn Q điều khiển xe ô tô tham gia giao thông đường bộ lùi xe không chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn đã vi phạm quy định tại khoản 1, Điều 16 Luật giao thông đường bộ, hậu quả làm chết một người, 01 người bị thương 40%. Nguyễn Văn T1 điều khiển xe mô tô trên xe chở cháu Nguyễn Văn Minh T2, khi đi đến đoạn đường trời mưa, có xe đi phía trước đang xin đường, T1 thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ xe đến mức an toàn đã vi phạm quy định tại khoản 1, Điều 12 Luật giao thông đường bộ, làm chết một người.

[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến an toàn, sự hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Do đó, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, VKSND thành phố Chí Linh truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại quá trình điều tra và phiên toà, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường cho bị hại, đại diện của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, bị cáo Q có bố được tặng thưởng H, huy chương; bị cáo T1 được UBND xã L, thành phố C tặng giấy khen nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[6] Xét thấy, bị cáo Q điều khiển xe ô tô tham gia giao thông đường bộ lùi xe không chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn, bị cáo T1 điều khiển xe mô tô trên xe chở cháu Nguyễn Văn Minh T2, khi đi đến đoạn đường trời mưa, có xe đi phía trước đang xin đường, T1 thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ xe đến mức an toàn, hậu quả cháu T2 bị chết, như vậy, bị cáo T1 là bị hại có một phần lỗi. Căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, các bị cáo không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, đã ăn năn hối cải, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo T1 là ông nội của cháu T2, nên Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần về hình phạt cho các bị cáo, không cần thiết phải buộc các bị cáo phải cách ly khỏi xã hội, mà cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự.

[7] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo, bị hại và đại diện gia đình bị hại thoả thuận thống nhất về trách nhiệm dân sự xong, không yêu cầu giải quyết, nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[9] Về vật chứng:

[9.1] Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã thu giữ và trả lại xe ô tô BKS 14C-165.98 cho Công ty Cổ phần T4 và trả xe mô tô BKS 34C1-257.19 cho Nguyễn Văn T1; Công ty Cổ phần T4 và Nguyễn Văn T1 đã nhận lại và không có yêu cầu gì.

[9.2] Trả lại bị cáo Q giấy phép lái xe ô tô hạng C, số [...] và trả lại bị cáo T1 giấy phép lái xe hạng A1 số [...], theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

[10] Vấn đề khác: Bị cáo Q bị Công an thành phố C xử phạt hành chính về “Không có giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới còn hiệu lực” với mức phạt tiền 500.000đ.

[11] Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[12] Về biện pháp ngăn chặn: Các bị cáo Q, T1 đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú của Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, các bị cáo được áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo nên cần hủy bỏ biện pháp ngăn chặn theo quy định tại điểm d khoản 1, khoản 2 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[13] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo, bị hại, đại diện của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn Q, Nguyễn Văn T1 phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

  2. Xử phạt bị cáo Đoàn Văn Q 12 (Mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án 19/8/2024.

  3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 12 (Mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án 19/8/2024.

    Giao bị cáo Q cho UBND xã T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; giao bị cáo T1 cho UBND xã L, thành phố C, tỉnh Hải Dương, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

  4. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.

  5. Về xử lý vật chứng: Trả lại bị cáo bị cáo Q giấy phép lái xe ô tô hạng C, số [...], do Sở G cấp ngày 26/5/2023 và trả lại bị cáo T1 giấy phép lái xe hạng A1 số [...], do Sở G1 cấp ngày 11/9/2017 (Đều trả tại phiên toà).

  6. Về án phí: Buộc các bị cáo Đoàn Văn Q và Nguyễn Văn T1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, đại diện của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương (01);
  • - VKSND tỉnh Hải Dương (01);
  • - VKSND thành phố Chí Linh (01);
  • - Công an Chí Linh (01);
  • - Cơ quan CSĐT-Công an TP. Chí Linh (01);
  • - Cơ quan hồ sơ nghiệp vụ của Công an nhân dân (Công an thành phố Chí Linh) (01);
  • - Chi cục THADS thành phố Chí Linh (01);
  • - Bị cáo (01); bị hại (01);
  • - Đại diện bị hại (01);
  • - Lưu: Tòa án, hồ sơ vụ án (02).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)




Vũ Thị Luyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 77/2024/HS-ST ngày 19/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 77/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: giao thông
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger