Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĨNH TƯỜNG

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2024/HS-ST

Ngày 31 tháng 7 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Đỗ Thành Công

Các hội thẩm nhân dân: ông Dương Xuân Tiến, ông Nguyễn Ngọc Triển

Thư ký phiên toà: Ông Lê Xuân Chín - Thư ký Toà án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: ông Đặng Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở UBND xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 71/2024/TLST - HS ngày 27 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Đăng N, sinh ngày 14 tháng 11 năm 1983

Nơi cư trú: thôn C, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Đăng B và bà: Lê Thị T; Có vợ là Lê Thị Thúy H; Có 03 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2020.

Tiền án, tiền sự: không

Nhân thân: Quyết định số 14/QĐ-TA ngày 03/11/2017 của TAND huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 18 tháng. Ngày 12/7/2019 chấp hành xong quyết định.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/3/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V, Vĩnh Phúc, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 05 phút ngày 17/3/2024, Công an huyện V đang làm nhiệm vụ tại khu vực đình T thuộc TDP T, TT T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc thì phát hiện Nguyễn Đăng N, sinh năm 1983, trú tại: Thôn C, xã C, huyện V và 01 người đàn ông đang đi trên 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirus màu đỏ gắn BKS 88S4-4411 (người đàn ông điều khiển xe mô tô, N ngồi phía sau) theo hướng từ đình T, thị trấn T ra đường T đi xã L có biểu hiện vi phạm pháp luật. Khi N và người đàn ông trên đi đến đoạn đường cách đường tránh TT.Thổ Tang đi xã L khoảng 10m, tổ công tác Công an huyện V yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Thấy vậy người đàn ông xuống xe, bỏ chạy về hướng đường tránh TT.Thổ Tang đi xã L, còn N ngồi sau xe mô tô bị giữ lại kiểm tra. Quá trình kiểm tra Công an huyện V phát hiện bắt quả tang N có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy Heroine.

Tang vật thu giữ, tạm giữ:

- T1 tại tay trái N đang cầm 02 gói nhỏ đều được bọc bên ngoài bằng nilon màu trắng, mở ra kiểm tra bên trong mỗi gói đều có chứa chất bột cục màu trắng. N khai nhận đây là 02 gói ma túy Heroine của N vừa nhờ người đàn ông đã bỏ chạy nêu trên (N khai tên T2) mua hộ được với mục đích để N và T2 cùng sử dụng chung. Tang vật được niêm phong vào 01 phong bì thư theo đúng thủ tục pháp luật, ký hiệu A1.

- Tạm giữ của N 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu đỏ đã cũ, gắn BKS: 88S4-4411. (BL 32-33)

Căn cứ hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy của N, cùng ngày Cơ quan CSĐT Công an huyện V tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của N tại thôn C, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Quá trình khám xét không phát hiện thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài sản gì.

Ngày 17/3/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V ra Quyết định số 466, trưng cầu Phòng K - Công an tỉnh V tiến hành giám định tang vật thu giữ của N để giám định xác định khối lượng và loại ma túy trong mẫu vật ký hiệu A1. Tại bản kết luận giám định số 740 ngày 21/3/2024 của Phòng K - Công an tỉnh V, kết luận:

Chất bột, cục màu trắng của mẫu ký hiệu Al gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2755g (Không phảy hai bảy năm năm gam, không kể bao bì) loại Heroine (H).

Heroine (H1) có tên khoa học là D được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

H2 lại đối tượng còn lại sau giám định gồm: A1=0,2274 gam, cùng toàn bộ bao gói được niêm phong trong cùng một bao gói giấy “MẪU TRẢ VỤ 647", trên giáp lai có chữ ký của người tham gia đóng gói, niêm phong và hình dấu tròn đỏ của Phòng K - Công an tỉnh V. Ngày 05/4/2024, Cơ quan điều tra đã thông báo nội dung kết luận giám định nêu trên cho Nguyễn Đăng N. N đồng ý với nội dung kết luận giám định và không có ý kiến gì.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Đăng N khai nhận: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 17/3/2024, N đang ở nhà tại thôn C, xã C thì nảy sinh nhu cầu muốn sử dụng ma túy Heroine, do biết 01 người đàn ông tên T2, khoảng hơn 40 tuổi thường đứng ở khu vực đình T, TT. T nhận đi mua hộ ma túy cho các đối tượng nghiện để được sử dụng ma túy cùng nên N cầm theo số tiền 400.000đ, đi bộ sang nhà anh Nguyễn Xuân T3, sinh năm 1980, ở thôn C, xã C, huyện V (là anh họ của N) mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA loại SIRIUS màu đỏ đã cũ gắn BKS: 88S4-4411của anh T3, rồi một mình điều khiển xe mô tô đi đến địa điểm nêu trên. Đến nơi, N thấy 01 người đàn ông đang đứng ở ven đường gần cổng đình T có đặc điểm giống với T2 nên N đi đến gặp và hỏi người này: “Anh Tuấn à”, người này trả lời: “Ừ”, N hiểu người này chính là T2 - người đi mua hộ ma túy, nên N nói: “Anh lấy hộ em bốn trăm, anh em mình cùng chơi”, ý của N là muốn nhờ T2 mua hộ N 400.000đ tiền ma túy Heroine để N sử dụng cho bản thân và cho T2 sử dụng một ít thì T2 đồng ý. N lấy ra số tiền 400.000đ đưa cho T2. T2 cầm tiền N đưa, rồi một mình điều khiển xe mô tô mượn của N đi về hướng trung tâm thị trấn T. N đứng đợi T2 ở cổng đình T được khoảng 10 phút thì T2 điều khiển xe mô tô quay lại gặp N và đưa cho N 02 gói ma túy Heroine đều được bọc bên ngoài bằng nilon màu trắng. N cầm 02 gói ma túy T2 đưa ở tay trái, rồi ngồi lên xe mô tô để T2 chở N đi tìm địa điểm cùng nhau sử dụng ma túy. Khi T2 chở N đi đến đoạn đường cách đường T đi xã L khoảng 10m thì lực lượng Công an huyện V đang làm nhiệm vụ yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Khi xe vừa dừng, T2 xuống xe bỏ chạy thoát về hướng đường tránh, còn N bị lực lượng Công an giữ lại kiểm tra, phát hiện bắt quả tang N có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy và thu giữ các vật chứng liên quan như đã nêu trên. Lời khai của N phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án.

Đối với người đàn ông tên T2 khoảng hơn 40 tuổi, theo lời khai của N thì T2 là người đã đi mua hộ ma túy cho N để N và T2 cùng sử dụng, sau đó T2 đã bỏ chạy thoát khi lực lượng Công an huyện V yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại Công an thị trấn T, rà soát camera tại khu vực xung quanh cổng đình T nhưng chưa xác định được cụ thể người đàn ông tên T2 này là ai, ở đâu nên tiếp tục điều tra, xác minh khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Về vật chứng của vụ án:

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius màu đỏ (đã cũ) gắn BKS: 88S4-4411, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Xuân T3 - sinh năm 1980, trú tại: xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Chiếc xe này anh T3 được ông Trần Công B1 - sinh năm 1954 ở xã T, huyện V (là bố vợ anh T3) tặng cho từ khoảng tháng 6/2013 (toàn bộ giấy tờ xe đứng tên ông B1). Ngày 17/3/2024, khi N mượn chiếc xe mô tô nêu trên của anh T3 thì N chỉ nói là đi có việc (N không nói cho anh T3 biết là việc gì). Việc N sử dụng chiếc xe mô tô mượn của anh T3 để đi mua ma túy thì anh T3 không biết và không liên quan gì. Do vậy, ngày 31/5/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện V ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô nêu trên cho anh T3 là phù hợp. Nhận lại tài sản, anh T3 không có yêu cầu, đề nghị gì.

Đối với mẫu vật A1=0,2274 gam là ma túy Heroine và toàn bộ bao gói do Cơ quan giám định hoàn trả sau giám định.

Tại bản cáo trạng số: 78/CT-VKSVT ngày 27 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc truy tố Nguyễn Đăng N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTHQH14 quy định về án phí, lệ phí.

Tuyên bố: Nguyễn Đăng N phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Nguyễn Đăng N từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/3/2024

Đại diện Viện kiểm sát cũng đề nghị xử lý vật chứng của vụ án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, hội đồng xét xử nhận định như sau:

1. Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

2. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Đăng N khai nhận toàn bộ về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo thừa nhận đã có hành vi mua, sau đó tàng trữ trái phép chất ma túy (heroine) nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, bị bắt quả tang vào hồi 11 giờ 05 phút ngày 17/03/2024, tại khu vực Đ, thị trấn T, huyện V như nội dung bản cáo trạng đã nêu là đúng và không có lời bào chữa nào khác.

Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các lời khai, bản kiểm điểm của chính bị cáo, lời khai của người chứng kiến, lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết quả giám định và các tài liệu chứng cứ khác thể hiện trong hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Đăng N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Điều luật quy định: “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán ... thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”.

C) Heroine .... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

3. Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là táo bạo, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Bị cáo vì không vượt qua được cám dỗ, đã cất giấu ma túy để sử dụng, gây nghiện, kéo theo các hệ lụy xấu cho chính bị cáo, cho gia đình và xã hội. Mặc dù các hành vi liên quan đến ma tuý đã được tuyên truyền giáo dục nhiều, song các tội phạm trên cũng chưa giảm, diễn biến phức tạp, thủ đoạn ngày càng tinh vi hơn. Vì vậy, phải đưa ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật và có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

Khi xem xét hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử đã cân nhắc đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy rằng: sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên bị cáo là người có nhân thân xấu; từng bị buộc đi cai nghiện bắt buộc về hành vi sử dụng ma túy; là con nghiện lâu năm, không có công ăn việc làm ổn định; do vậy phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc để giáo dục, cải tạo bị cáo và dăn đe phòng ngừa chung đối với xã hội.

Khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng,......... tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Qua xem xét điều kiện, hoàn cảnh của bị cáo thấy rằng: bị cáo không có việc làm ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có tài sản riêng có gí trị. Vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

4. Đối với người đàn ông khoảng hơn 40 tuổi, theo lời khai của N thì tên là T2, người đã đi mua hộ ma túy cho N để N và T2 cùng sử dụng, sau đó T2 đã bỏ chạy thoát khi lực lượng Công an huyện V yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại Công an thị trấn T, rà soát camera tại khu vực xung quanh cổng đình T nhưng chưa xác định được cụ thể người đàn ông tên T2 này là ai, ở đâu? N cũng không biết về nhân thân, lai lịch thật của người đàn ông, nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp.

5. Về vật chứng của vụ án:

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius màu đỏ (đã cũ) gắn BKS: 88S4-4411, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Xuân T3 cho bị cáo Ngọc mượn vào ngày 17/3/2024, khi N mượn chiếc xe mô tô nêu trên của anh T3 thì N chỉ nói là đi có việc (N không nói cho anh T3 biết là việc gì). Việc N sử dụng chiếc xe mô tô mượn của anh T3 để đi mua ma túy thì anh T3 không biết và không liên quan gì. Do vậy, ngày 31/5/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện V ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô nêu trên cho anh T3 là phù hợp. Nhận lại tài sản, anh T3 không có yêu cầu, đề nghị gì nên HĐXX không xem xét trong vụ án.

Đối với mẫu vật A1=0,2274 gam là ma túy Heroine và toàn bộ bao gói do Cơ quan giám định hoàn trả sau giám định, không có giá trị sử dụng, là chất cấm lưu hànhghj nên cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định.

6. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đăng N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTHQH14 quy định về án phí, lệ phí.

Tuyên bố: Nguyễn Đăng N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Nguyễn Đăng N 01 năm 09 tháng tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 27/3/2024.

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: A1=0,2274 gam là ma túy Heroine và toàn bộ bao gói do Cơ quan giám định hoàn trả sau giám định (tất cả có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường)

Án phí: Nguyễn Đăng N phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - VKSND huyện Vĩnh Tường;
  • - CCTHADS huyện Vĩnh Tường;
  • - Công an huyện Vĩnh Tường;
  • - UBND xã Cao Đại;
  • - Bị cáo Ngọc;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà

Đỗ Thành Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 77/2024/HS-ST ngày 31/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 77/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đăng N phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger