Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SÓC SƠN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:77/2023/HNGĐ-ST  

Ngày: 29/12/2023  

V/v: Tranh chấp ly hôn  

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thịnh Quang Thắng.

Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Dương Văn Xuyên

2/ Bà Nguyễn Thị Hữu

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Vũ Thu Trang – Thư ký Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên toà: Bà Phạm Thanh D – Kiểm sát viên.

Ngày 29/12/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân Huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 688/TLST – HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2023 về việc “tranh chấp ly hôn”.Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/11/2023. Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2023/QĐST ngày 13/12/2023. Giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Đào Thị Hải Y, sinh năm 1994
  2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1990;

Đều cư trú tại thôn Đ, xã P, huyện S, Hà Nội

Có mặt:Chị Y, anh N

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện ngày 26/10/2023, các lời khai bổ sung, chị Đào Thị Hải Y - nguyên đơn trình bày:

- Về tình cảm: Chị với anh N kết hôn ngày 28/10/2013 và có đăng ký tại UBND xã P, huyện S. Sau khi cưới chị về chung sống với với gia đình anh N tại thôn Đ, xã P, huyện S, Hà Nội. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, anh N đánh đập chị và bỏ bê con cái. Nguyên nhân anh N không quan tâm đến gia đình bỏ bê gia đình. Chị cũng đã bỏ về nhà mẹ đẻ nhiều lần và tha thứ cho anh N. Nhưng anh N vẫn chứng nào tật đấy uống rượu bỏ bê gia đình và về gây sự đánh đập chị. Anh N cũng đã từng làm đơn ra Toà án xin ly hôn chị vào năm 2022. Chị có nhận được thông báo của Toà án báo chị lên làm việc nhưng sau đó anh N rút đơn. Lý do vì sao anh N làm đơn xin ly hôn chị thì chị cũng không rõ. Chị nay xác định tình cảm không còn chị kiên quyết xin ly hôn anh N.

- Về con chung: vợ chồng chị sinh được 03 người con chung là cháu Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 08/4/2014, cháu Nguyễn Khánh V, sinh ngày 02/7/2016 và cháu Nguyễn Quốc T, sinh ngày 25/12/2019. Hiện nay đang ở với gia đình anh N vì các cháu vẫn đang đi học ngay trường gần nhà. Nếu trong trường hợp ly hôn chị có nguyện vọng nuôi cả ba con. Trong trường hợp không được nuôi cả ba con chung thì chị có nguyện vọng nuôi dưỡng cháu T, cháu V, còn để anh N nuôi dưỡng cháu Ngọc A. Hiện nay chị làm công ty TNHH H địa chỉ tại khối H Phủ Lỗ S, Hà Nội. Thu nhập bình quân 7.000.000đ/tháng.

- Về tài sản, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Anh N trình bày:

- Về tình cảm: Anh nhất trí về thời gian kết hôn của hai vợ chồng. Nguyên nhân mâu thuẫn như chị Y trình bày hoàn toàn là không đúng mà do tính chất công việc của anh phải tiếp khách nên có uống rượu. Anh đánh gây thương tích cho chị Y là không đúng, anh khi nóng giận có tát chị Y thôi chứ không đánh đập. Lý do năm 2022, anh làm đơn xin ly hôn chị N là do áp lực công việc, anh bị trầm cảm nên anh suy nghĩ không thấu đáo nên mới làm đơn xin ly hôn chị Y. Nay anh xác định vẫn còn tình cảm, yêu thương chị Y. Anh xin hứa sẽ sửa chữa những khuyết điểm của anh. Anh mong chị Y cho anh một cơ hội để làm lại. Nếu xảy ra lần nữa thì anh chấp nhận ly hôn chị Y.

- Về con chung: Vợ chồng anh có 03 người con chung là cháu cháu Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 08/4/2014, cháu Nguyễn Khánh V, sinh ngày 02/7/2016 và cháu Nguyễn Quốc T, sinh ngày 25/12/2019. Hiện nay đang ở với gia đình anh. Trong trường hợp phải ly hôn anh đề nghị Toà án giải quyết theo pháp luật sao cho hợp lý. Nếu trong trường hợp chị Y được nuôi cả ba đứa con thì anh sẽ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật. Hiện nay anh lái xe thuê thu nhập bình quân 10.000.000đ/tháng nhưng thu nhập của anh không ổn định.

- Về tài sản, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết..

Tại phiên tòa:

+ Chị Y vẫn giữ nguyên quan điểm xin ly hôn anh N; Về con chung: vợ chồng có 03 con chung là cháu Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 08/4/2014, cháu Nguyễn Khánh V, sinh ngày 02/7/2016 và cháu Nguyễn Quốc T, sinh ngày 25/12/2019. Ly hôn chị có nguyện vọng nuôi cả ba con. Trong trường hợp không được nuôi cả ba con chung thì chị có nguyện vọng nuôi dưỡng cháu T, cháu V, còn để anh N nuôi dưỡng cháu Ngọc A và không yêu cầu Toà án giải quyết về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện nay chị làm công ty TNHH H địa chỉ tại khối H Phủ Lỗ S, Hà Nội. Thu nhập bình quân 7.000.000đ/tháng. Về tài sản, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

+ Anh N trình bày: Anh nhất trí ly hôn chị Y. Về con chung: Vợ chồng anh có 03 người con chung. Trong trường hợp phải ly hôn anh yêu cầu được nuôi dưỡng hai con chung và không yêu cầu giải quyết về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện nay anh lái xe thuê thu nhập bình quân 10.000.000đ/tháng nhưng thu nhập của anh không ổn định.Về tài sản, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết..

+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng theo trình tự thủ tục pháp luật quy định. Đối với nguyên đơn từ khi thụ lý vụ án đến phiên toà hôm nay đã chấp hành tốt pháp luật không phải nhắc nhở, kiến nghị gì. Bị đơn không chấp quy định pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án nên cần kiến nghị, nhắc nhở.

- Về nội dung vụ án:

+ Sau khi phân tích các tình tiết nội dung của vụ án và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, tại phiên toà anh chị thuận tình ly hôn nên ghi nhận.

+ Về con chung: Vợ chồng anh chị có 03 con chung là cháu Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 08/4/2014, cháu Nguyễn Khánh V, sinh ngày 02/7/2016 và cháu Nguyễn Quốc T, sinh ngày 25/12/2019. Ly hôn giao cho chị yến nuôi dưỡng cháu V và cháu T. Anh N nuôi dưỡng cháu Ngọc A và không giải quyết về vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

+ Về tài sản chung, vay nợ chung, công sức chung: Các bên không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.

+ Về án phí: Chị Y phải chịu cả

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật:

Chị Y kết hôn với anh Nguyễn Văn N ngày 28/10/2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, S, Hà Nội. Anh N hiện cư trú tại thôn Đ, xã P, S, Hà Nội. Do vậy, xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp về ly hôn theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ vợ chồng: Chị Đào Thị Hải Y và anh Nguyễn Văn N kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại xã P là hôn nhân hợp pháp. Nay chị Y xin ly hôn, anh N không đồng ý.

Căn cứ tài liệu xác minh tại chính quyền địa phương, gia đình chị Y, thể hiện: Anh chị có nhiều mâu thuẫn, đã ly thân. Anh N không đến Toà án làm việc không tham gia hoà giải. Anh N cũng đã từng làm đơn đến Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn để xin ly hôn chị N. Sau đó anh N rút đơn để vợ chồng đoàn tụ nhưng đến nay không cải thiện được.

Tại phiên toà chị Y và anh N thuận tình ly hôn. Xét việc anh chị thuận tình ly hôn là hoàn toàn tự nguyện nên được chấp nhận và phù hợp với Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về con chung: Chị Y, anh N có 03 con chung là Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 08/4/2014, cháu Nguyễn Khánh V, sinh ngày 02/7/2016 và cháu Nguyễn Quốc T, sinh ngày 25/12/2019. Hiện nay đang ở với gia đình anh N vì các cháu vẫn đang đi học ngay trường gần nhà. Ly hôn, chị Y, anh N đều có nguyện vọng được nuôi dưỡng hai con chung.

Xét yêu cầu nuôi con của các bên: Yêu cầu nuôi con của chị Y, anh N đều là hợp pháp. Quyền chăm sóc nuôi dưỡng con chung của anh chị là ngang nhau. Nhưng Hội đồng xét xử nhận thấy hiện nay trong ba người con chung của anh chị thì có cháu V, cháu T là còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ hơn, anh N là lái xe nên không có nhiều thời gian chăm con bằng chị Y. Do đó anh chị ly hôn, giao cho chị Y chăm sóc, nuôi dưỡng cháu V, cháu T. Anh N nuôi dưỡng cháu Ngọc A là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị Y, anh N không yêu cầu giải quyết về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung. Do đó, Tòa án không xem xét giải quyết việc cấp dưỡng nuôi chung cho đến khi nào các con thành niên hoặc có sự thay đổi khác.

[3] Về tài sản chung, vay nợ chung, công sức chung: Các bên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.

[4] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Y phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

  • Điều 55, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
  • Khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, Điều 203, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  • Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Điểm 1.1 mục 1 phần II Danh mục án phí, lệ phí Tòa án (ban hành kèm theo Nghị quyết).

Xử:

  1. Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Đào Thị Hải Y và anh Nguyễn Văn N. Chị Đào Thị Hải Y được ly hôn anh Nguyễn Văn N.
  2. Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Khánh V, sinh ngày 02/7/2016 và cháu Nguyễn Quốc T, sinh ngày 25/12/2019 cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng. Giao anh N trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc A, sinh ngày 08/4/2014 cho đến khi con chung thành niên hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Anh N, chị Y có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Y, anh N không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
  3. Về tài sản chung, vay nợ chung, công sức chung: Các bên không yêu cầu giải quyết, nên Tòa án không xem xét.
  4. Về án phí: Chị Đào Thị Hải Y phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng, theo biên lai số 0022030 ngày 03/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn. Chị Y đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
  5. Án xử công khai sơ thẩm. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKS Sóc Sơn;
  • - THA Sóc Sơn;
  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - UBND xã Phú Minh;
  • - Lưu hồ sơ;

Thịnh Quang Thắng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 77/2023/HNGĐ-ST ngày 29/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 77/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử chấp nhận ly hôn, con chung và các vấn đề khác có liên quan
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger