Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ SƠN TÂY - TP. HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2024/HSST

Ngày: 19/8/2024.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Tú.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Đào Huy Dương và bà Nguyễn Thị Thi.

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Đức Thuận - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy Dịu - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 61/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H, sinh năm 1987 tại huyện S, Hà Nội.

Nơi cư trú: Thôn L, xã V, huyện S, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị V; Có vợ tên Nguyễn Thị H2, và có 3 con, con lớn sinh 2008, con nhỏ sinh 2016; Tiền án: Tại bản án số 136 ngày 14/8/2013 Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn xử phạt 5.000.000 đồng về tội Đánh bạc (H chưa thi hành, nên chưa được xóa án); Tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại; Có mặt.

- Các bị hại:

  • + Nguyễn Minh Đ, sinh năm 1987; Trú tại: HTX Đồng Thắng, phường Lê Lợi, thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội; Vắng mặt.
  • + Lê Văn T, sinh năm 1986; Trú tại: Số 4/8/14 Phù Sa, phường Viên Sơn, thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội; Vắng mặt.
  • + Trần Văn H3, sinh năm 2000; Trú tại: Thôn 7, xã Trung Hà, huyện Yên Lạc, Vĩnh Phúc; vắng mặt.
  • + Nguyễn Văn H4, sinh năm 1989; Trú tại: Thôn 6, xã Song phương, huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội; Vắng mặt.
  • + Bàn Tiến T1, sinh năm 1992; Trú tại: Thôn Đoàn Kết, xã Đại Sơn, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái; Có mặt.
  • + Lê Văn L, sinh năm 1997; Trú tại: Thôn Cao Sơn, xã Vân Am, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.
  • + Đỗ Huy H5, sinh năm 1998; Trú tại: Số 40 La Thành, phường Đông Cương, thành phố Thanh Hóa; vắng mặt.
  • + Trần Hương T2, sinh năm 1993; Trú tại: Thôn Yên Hậu, xã xã Hòa Tiến, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Giang; vắng mặt.
  • + Đỗ Thị H6, sinh năm 1993; Trú tại: Thôn Kính Lỗ, xã Uy Nỗ, huyện Đông Anh, Hà Nội; vắng mặt.
  • + Nguyễn Đình H7, sinh năm 1988; Trú tại: Thôn Giếng, xã Hữu Bằng, huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội; vắng mặt
  • + Nguyễn Anh P, sinh năm 1981; Trú tại: Thôn 14, xã Sen Phương, huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội; có mặt.
  • + Nguyễn Thế Q, sinh năm 1977; Trú tại:Thôn Liên Đàm, xã Yên Thường,Gia Lâm, Hà Nội; vắng mặt.
  • + Nguyễn Văn T3, sinh năm 1997; Trú tại: Thôn Mễ Trì, xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc; vắng mặt.
  • + Mỹ Văn H8, sinh năm 1997; Trú tại: Thôn Giang Tân, xã Thái Sơn, huyện Hiệp Hòa, Bắc Giang; vắng mặt.

- Người làm chứng:

  • + Lã Duy D, sinh năm 1979; Trú tại: Thôn Tiên Tảo, xã Việt Long, huyện Sóc Sơn, Hà Nội; vắng mặt.
  • + Nguyễn Văn T4, sinh năm 1979; Trú tại: Thôn Tiên Tảo, xã Việt Long, huyện Sóc Sơn, Hà Nội; vắng mặt.
  • + Lê Văn V1, sinh năm 1982; Trú tại: Số 39, tổ 17, thị trấn Đông Anh, huyện Đông Anh, Hà Nội; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Văn H biết Trung tâm Đ1, có địa chỉ: xã Đ, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc. Lợi dụng tâm lý của nhiều người muốn đăng ký học thi nâng hạng bằng lái xe ô tô, hoặc thi lái xe, không cần đến các Trung tâm dạy nghề, nên H đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người dưới hình thức nhận tiền làm hồ sơ và tiền lệ phí thi sát hạch cấp mới bằng lái xe ô tô và nâng hạng bằng lái xe ô tô. Để thực hiện hành vi lừa đảo, H đã đặt mua 01 thẻ giáo viên dạy lái xe hạng B, B2, C giả chi tên Trung tâm Đ1 mang tên H kèm ảnh và H còn mua 01 con dấu vuông có nội dung “Trung tâm đào tạo và sát hạch lái xe Hùng Vương – ĐÃ THU TIỀN” của một người không quen biết trên mạng xã hội Facebook, 01 quyển Biên lai thu tiền màu xanh tại một quán phô tô. Sau đó H sử dụng tài khoản Facebook “Kiên Cường” tham gia các hội nhóm về chia sẻ kinh nghiệm lái xe, thi bằng lái xe rồi đăng bài giới thiệu H là giáo viên dạy lái xe của trung tâm Đ1, có nhận làm hồ sơ thi cấp mới bằng lái xe và thi nâng hạng bằng lái xe các hạng..., ngoài việc đăng bài viết ra thì H còn đọc bình luận trên các hội, nhóm nếu thấy ai có nhu cầu muốn thi bằng hoặc nâng bằng lái xe thì H sẽ nhắn tin với người đó nhằm chiếm đoạt tiền lệ phí làm hồ sơ thi.

Quá trình nhắn tin trao đổi H tự giới thiệu như trên và yêu cầu người có nhu cầu chụp ảnh các giấy tờ liên quan đến việc thi cấp mới bằng lái xe và thi nâng hạng bằng lái xe ô tô như: Bằng tốt nghiệp THPT, căn cước công dân, ảnh chân dung, hồ sơ gốc thi bằng lái xe, bằng lái xe... Sau khi nhận được ảnh các giấy tờ trên thì H sẽ yêu cầu phải nộp tiền trước để làm hồ sơ và tiền lệ phí. Để lấy lòng tin của những người có nhu cầu thì H sẽ in các giấy tờ mà người dân gửi cho H ra rồi sử dụng dấu “Trung tâm đào tạo và sát hạch lái xe Hùng Vương – ĐÃ THU TIỀN” đóng lên các giấy tờ này và sử dụng quyển biên lai thu tiền viết thông tin của người nộp tiền tiền. Sau khi làm xong thì H chụp ảnh các giấy tờ này gửi cho người đó, ngoài ra nếu người nào hỏi về căn cước công dân hoặc thông tin của H thì H sẽ chụp ảnh thẻ giáo viên mà H đã đặt mua từ trước gửi cho người đó để lấy lòng tin, khi người đó đồng ý chuyển tiền làm hồ sơ và tiền lệ phí thi thì H sẽ gửi cho người đó số tài khoản ngân hàng là 0877019259999 hoặc 0988181087 mang tên Nguyễn Văn H mở tại ngân hàng M để cho người có nhu cầu chuyển tiền.

Sau khi nhận được tiền thì H sẽ đưa ra những thông tin không có thật về lịch tham gia học lái xe, thời gian tham gia thi, lịch thi sát hạch...trong quá trình nhắn tin trao đổi thì H sẽ tiếp tục yêu cầu người dân phải chuyển tiền thêm nhiều lần với lý do không có thật như: nộp tiền lệ phí cho nhà trường, không nộp nốt tiền tiền lệ phí thì không được tham gia học lái xe, không được tham gia thi, phải tham gia học lái xe đường trường..., nhằm mục đích tiếp tục chiếm đoạt tiền. Sau khi người có nhu cầu chuyển tiền theo yêu cầu của H thì H sẽ chặn mọi liên lạc với người đó và chiếm đoạt toàn bộ số tiền đã nhận. Với phương thức thủ đoạn như trên trong khoảng thời gian từ tháng 6/2021 đến tháng 11/2023, Nguyễn Văn H đã lừa đảo chiếm đoạt tài sản của 14 người gồm:

  1. Anh Nguyễn Minh Đ, sinh năm: 1987, trú tại: Hợp tác xã Đ, phường L, TX S, Hà Nội. Quá trình giao dịch, Nguyễn Văn H đã nhận tiền của anh Đ để làm hồ sơ và tiền lệ phí thi sát hạch nâng hạng bằng lái xe ô tô từ hạng D lên hạng F cho anh Đ. Anh Đ chuyển số tiền 13.000.000 đồng từ tài khoản 1110123456666 tại ngân hàng M1 của anh Đ đến tài khoản 0877019259999 tại ngân hàng M1 của H. Sau đó, H đã chặn mọi liên lạc và chiếm đoạt số tiền đã nhận.
  2. Anh Lê Văn T, sinh năm: 1986, trú tại: 4 P, phường V, TX S, Hà Nội. Quá trình giao dịch, Nguyễn Văn H đã nhận tiền của anh T để làm hồ sơ và tiền lệ phí thi sát hạch nâng hạng bằng lái xe ô tô từ hạng D lên hạng F cho anh T. Anh T chuyển số tiền 13.000.000 đồng từ tài khoản 2203205487048 tại ngân hàng A của anh T đến tài khoản 0877019259999 tại ngân hàng M1 của H. Sau đó, H đã chặn mọi liên lạc và chiếm đoạt số tiền đã nhận.
  3. Anh Trần Văn H3, sinh năm 2000, HKTT và chỗ ở: thôn G, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Quá trình giao dịch, Nguyễn Văn H đã nhận tiền của anh H3 để làm hồ sơ và tiền lệ phí thi cấp mới bằng lái xe ô tô hạng B2 cho anh H3. Anh H3 chuyển số tiền 6.000.000 đồng từ tài khoản 104869055588 tại ngân hàng V2 của anh H3 đến tài khoản 0877019259999 tại ngân hàng M1 của H. Sau đó, H đã chặn mọi liên lạc và chiếm đoạt số tiền đã nhận.
  4. Anh Nguyễn Văn H4, sinh năm 1989, HKTT và chỗ ở: Thôn F, xã S, huyện H, Hà Nội. Quá trình giao dịch, Nguyễn Văn H đã nhận tiền của anh H4 để làm hồ sơ và tiền lệ phí thi sát hạch nâng hạng bằng lái xe ô tô từ hạng B2 lên hạng D cho anh H4. Anh H4 chuyển số tiền 12.500.000 đồng từ tài khoản 0901281889 và 183978926 tại ngân hàng V3 của anh H4 đến tài khoản 0877019259999 tại ngân hàng M1 của H. Sau đó, H đã chặn mọi liên lạc và chiếm đoạt số tiền đã nhận.
  5. Anh Bàn Tiến T1, sinh năm: 1992, HKTT và chỗ ở: thôn Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Yên Bái. Quá trình giao dịch, Nguyễn Văn H đã nhận tiền của anh T1 để làm hồ sơ và tiền lệ phí thi sát hạch nâng hạng bằng lái xe ô tô từ hạng B2 lên hạng D cho anh T1. Anh T1 chuyển số tiền 9.800.000 đồng từ tài khoản 8886786888 tại ngân hàng M1 của anh T1 đến tài khoản 0877019259999 tại ngân hàng M1 của H. Sau đó, H đã chặn mọi liên lạc và chiếm đoạt số tiền đã nhận.
  6. Anh Lê Văn L, sinh năm 1997, HKTT và chỗ ở: Thôn C, xã V, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Quá trình giao dịch, Nguyễn Văn H đã nhận tiền của anh L để làm hồ sơ và tiền lệ phí thi sát hạch nâng hạng bằng lái xe ô tô từ hạng B2 lên hạng C cho anh L. Anh L chuyển số tiền 8.000.000 đồng từ tài khoản 105003324865 tại ngân hàng V4 của anh L đến tài khoản 0877019259999 tại ngân hàng M1 của H. Sau đó, H đã chặn mọi liên lạc và chiếm đoạt số tiền đã nhận.
  7. Anh Đỗ Huy H5, sinh năm 1998, HKTT và chỗ ở: số D L, phường Đ, TP T, tỉnh Thanh Hóa. Quá trình giao dịch, Nguyễn Văn H đã nhận tiền của anh H5 để làm hồ sơ và tiền lệ phí thi sát hạch nâng hạng bằng lái xe ô tô từ hạng B2 lên hạng D cho anh H5. Anh H5 chuyển số tiền 4.000.000 đồng từ tài khoản 2307199899999 tại ngân hàng M1 của anh H5 đến tài khoản 0877019259999 tại ngân hàng M1 của H. Sau đó, H đã chặn mọi liên lạc và chiếm đoạt số tiền đã nhận.
  8. Chị Trần Hương T2, sinh năm: 1993, HKTT và chỗ ở: Thôn Y, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Quá trình giao dịch, Nguyễn Văn H đã nhận tiền của chị T2 để làm hồ sơ và tiền lệ phí thi sát hạch cấp mới bằng lái xe ô tô hạng B2 cho chị T2. Chị T2 chuyển số tiền 13.000.000 đồng từ tài khoản 2141000104117 tại ngân hàng B của chị T2 đến tài khoản 0877019259999 tại ngân hàng M1 của H. Sau đó, H đã chặn mọi liên lạc và chiếm đoạt số tiền đã nhận.
  9. Chị Đỗ Thị H6, sinh năm: 1993, HKTT và chỗ ở: Thôn K, xã U, huyện Đ, Hà Nội. Quá trình giao dịch, Nguyễn Văn H đã nhận tiền của chị H6 để làm hồ sơ và tiền lệ phí thi sát hạch cấp mới bằng lái xe ô tô hạng B2 cho chị H6. Chị H6 nhờ chị Trần Hương T2 chuyern tiền hộ số tiền 13.000.000 đồng từ tài khoản tài khoản 2141000104117 tại ngân hàng B của chị T2 của chị H6 đến tài khoản 0877019259999 tại ngân hàng M1 của H. Sau đó, H đã chặn mọi liên lạc và chiếm đoạt số tiền đã nhận.
  10. Anh Nguyễn Đình H7, sinh năm: 1988, trú tại: Thôn G, xã H, huyện T, Hà Nội. Quá trình giao dịch, Nguyễn Văn H đã nhận tiền của anh H7 để làm hồ sơ và tiền lệ phí thi sát hạch nâng hạng bằng lái xe ô tô từ hạng B2 lên hạng D cho anh H7. Anh H7 chuyển số tiền 4.000.000 đồng từ tài khoản 45210000509945 tại ngân hàng B của anh H7 đến tài khoản 0877019259999 tại ngân hàng M1 của H. Sau đó, H đã chặn mọi liên lạc và chiếm đoạt số tiền đã nhận.
  11. Anh Nguyễn Anh P, sinh năm: 1981, trú tại: Thôn A, xã S, huyện P, Hà Nội. Quá trình giao dịch, Nguyễn Văn H đã nhận tiền của anh P để làm hồ sơ và tiền lệ phí thi sát hạch nâng hạng bằng lái xe ô tô từ hạng B2 lên hạng D cho anh P. Anh P chuyển số tiền 8.500.000 đồng từ tài khoản 0320116580326 tại ngân hàng M1 của anh P đến tài khoản 0877019259999 tại ngân hàng M1 của H. Sau đó, H đã chặn mọi liên lạc và chiếm đoạt số tiền đã nhận.
  12. Anh Nguyễn Thế Q, sinh năm: 1977, trú tại: Thôn L, xã Y, huyện G, Hà Nội. Quá trình giao dịch, Nguyễn Văn H đã nhận tiền của anh Q để làm hồ sơ và tiền lệ phí thi sát hạch nâng hạng bằng lái xe ô tô từ hạng B2 lên hạng D cho anh Q. Anh Q chuyển số tiền 6.000.000 đồng từ tài khoản tài khoản 19030237899021 tại ngân hàng T6 của anh Q đến tài khoản 0877019259999 tại ngân hàng M1 của H. Sau đó, H đã chặn mọi liên lạc và chiếm đoạt số tiền đã nhận.
  13. Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm: 1997, trú tại: Thôn M, xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Quá trình giao dịch, Nguyễn Văn H đã nhận tiền của anh T3 để làm hồ sơ và tiền lệ phí thi sát hạch nâng hạng bằng lái xe ô tô từ hạng B2 lên hạng D cho anh T3. Anh T5 chuyển số tiền 4.000.000 đồng từ tài khoản 100875983430 tại ngân hàng M1 của anh T5 đến tài khoản 0877019259999 tại ngân hàng M1 của H. Sau đó, H đã chặn mọi liên lạc và chiếm đoạt số tiền đã nhận.
  14. Anh Mỳ Văn H9, sinh năm: 1997, trú tại: Thôn G, xã T, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Quá trình giao dịch, Nguyễn Văn H đã nhận tiền của anh H9 để làm hồ sơ và tiền lệ phí thi sát hạch nâng hạng bằng lái xe ô tô từ hạng B2 lên hạng D cho anh H9. Anh H9 chuyển số tiền 14.000.000 đồng từ tài khoản 19030236424011 tại ngân hàng T6 của anh H9 đến tài khoản 0877019259999 tại ngân hàng M1 của H. Sau đó, H đã chặn mọi liên lạc và chiếm đoạt số tiền đã nhận.

Ngoài hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của 14 người nêu trên, trong thời gian từ tháng 6/2023 đến tháng 9/2023, Nguyễn Văn H còn nhận tiền lệ phí làm hồ sơ, lệ thi cấp mới bằng lái xe, nâng hạng bằng lái xe của 03 người khác gồm: Anh Lã Duy D, sinh năm: 1979, trú tại: Thôn T, xã V, huyện S, Hà Nội (là bạn với H) đặt vấn đề nhờ H làm hồ sơ đăng ký thi sát hạch nâng hạng bằng lái xe cho 04 người bạn của anh D là các anh C, H10, H6, N (anh D chỉ biết tên nhưng không biết tên, tuổi địa chỉ cụ thể), H đồng ý. Quá trình trao đổi thỏa thuận thì H đều yêu cầu anh D chuyển tiền lệ phí làm hồ sơ và tiền lệ phí cho 04 người bạn của anh D do 04 người bạn của anh D làm hồ sơ đăng ký thi khác nhau nên H không nhớ chính xác thời gian cụ thể của từng người, trước khi nhận tiền để làm hồ sơ thì H đều nói với anh D từ khi làm hồ sơ đăng ký thi đến khi tham gia thi là khoảng 3-5 tháng, nếu bạn của anh D đồng ý thì chuyển tiền lệ phí làm hồ sơ và lệ phí thi cho H. Sau đó anh D đã có 08 lần chuyển tiền với tổng số tiền là 51.400.000 đồng cho H để làm hồ sơ đăng ký thi cho 04 người bạn của anh D gồm: anh C số tiền 12.500.000 đồng, anh H10 số tiền 14.000.000 đồng, anh H6 15.000.000 đồng, anh N1 10.000.000 đồng. Tuy nhiên khi H đang làm hồ sơ cho 04 người bạn của anh D thì anh D nói 04 người bạn của anh D không có nhu cầu thi nâng hạng bằng lái xe nữa và muốn hủy hồ sơ, lấy lại tiền lệ phí đã nộp. Ngay khi nghe anh D nói như vậy thì H đã trả lại toàn bộ số tiền mà anh D đã chuyển cho H để làm hồ sơ đăng ký thi nâng bằng cho 04 người bạn của anh D. Khi nhờ H làm hồ sơ thì giữa anh D và H không có bàn bạc, thống nhất gì về số tiền lệ phí và anh D cũng không được hưởng lợi gì từ H. Quá trình điều tra chứng minh H không có mục đích chiếm đoạt số tiền này nên không có dấu hiệu H lừa đảo chiếm đoạt tiền của 4 người C, H10, H6, N với số tiền 51.400.000 đồng này. Anh Nguyễn Văn T4, sinh năm: 1979, trú tại: Thôn T, xã V, huyện S, Hà Nội, với số tiền 4.000.000 đồng; anh Lê Văn V1, sinh năm: 1982, trú tại: số C tổ A, thị trấn Đ, huyện Đ, Hà Nội, với số tiền 5.000.000 đồng Sau đó anh T4 anh, V1 không có nhu cầu thi bằng lài xe nên H đã trả lại toàn bộ số tiền trên cho anh T4, V1. Nay anh D, T4, V1 không có yêu cầu đề nghị ghì. Quá trình điều tra chứng minh H không có mục đích chiếm đoạt số tiền này nên không có dấu hiệu H lừa đảo chiếm đoạt tiền của anh T4, anh V1 với số tiền 9.000.000 đồng.

Đối với anh Lã Duy D có mối quan hệ quen biết là bạn bè với Nguyễn Văn H, quá trình quen biết anh D chỉ biết H có nhận hồ sơ thi cấp mới hoặc nâng hạng bằng lái xe ô tô cho người có nhu cầu. Vì vậy, khi các anh C, H10, H6, N có nhu cầu muốn nâng hạng bằng lái xe thì anh D đã giới thiệu và chuyển tiền cho H với mục đích giúp đỡ các anh C, H10, H6, N có thể thi nâng hạng bằng lái xe. Tại thời điểm anh D giới thiệu và chuyển tiền cho H để làm hồ sơ thi nâng hạng bằng lái xe thì anh D chỉ được nghe H tự giới thiệu là giáo viên dạy lái xe, còn thực tế H có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn trong việc làm hồ sơ thi sát hạch nâng bằng lái hay không thì anh D không biết. Anh Dũng không bàn bạc, giúp sức và không được hưởng lợi gì từ H. Vì vậy, không có căn cứ để xử lý đối với Lã Anh D1.

Đối với 01chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6S Plus, màu vàng để nhắn tin, gọi điện trao đổi, thỏa thuận với những người trên. Tuy nhiên sau đó chiếc điện thoại này bị hỏng nên H đã vứt bỏ mà không nhớ là vứt ở đâu nên không có căn cứ để truy tìm.

Đối với thẻ giáo viên dạy lái xe và dấu “Trung tâm đào tạo và sát hạch lái xe Hùng Vương – ĐÃ THU TIỀN” là do H đặt mua của một người không quen biết qua mạng xã hội Facebook, còn đối với quyển biên lai thu tiền thì H mua tại một quán phô tô, H không nhớ tên và địa chỉ của quán phô tô này. Thẻ giáo viên, dấu, quyển biên lai thu tiền H đã đốt cháy không còn lưu giữ nên không tiến hành thu giữ và không có căn cứ để xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: các anh Nguyễn Minh Đ, Lê Văn T, Trần Văn H3, Nguyễn Văn H4, Bàn Tiến T1, Lê Văn L, Đỗ Duy H11, chị Trần Hương T2, Đỗ Thị H6, Nguyễn Đình H7, Nguyễn Anh P, Nguyễn Thế Q, Nguyễn Văn T3, Mỳ Văn H9 yêu cầu Nguyễn Văn H phải trả lại số tiền mà H đã lừa đảo chiếm đoạt đối với 14 bị hại là 128.800.000 đồng.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Tại bản cáo trạng số 62/CT – VKS ngày 17/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội truy tố Nguyễn văn H12 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, đề nghị HĐXX căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 5; Điểm g và h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt H mức án từ 36 đến 42 tháng tù; Hình phạt bổ sung không áp dụng; Về dân sự buộc H phải trả lại cho các bị hại toàn bộ số tiền H đã chiếm đoạt; Về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của các bị hại, biên bản hỏi cung bị can, cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 6/2021 đến tháng 11/2023, Nguyễn Văn H đã có hành vi đưa ra thông tin gian dối H là giáo viên dạy lái xe của trung tâm Đ1, địa chỉ: xã Đ, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, có nhận làm hồ sơ thi cấp mới bằng lái xe và thi nâng hạng bằng lái xe các hạng..., để 14 bị hại tin và chuyển tiền phí làm hồ sơ thi nâng hạng bằng lái xe và hồ sơ học thi bằng lái xe ô tô, với tổng số tiền là 128.800.000 đồng. Sau đó, H đã chặn hết mọi liên lạc với những người bị hại và chiếm đoạt số tiền đã nhận, sử dụng vào việc cá nhân. Hành vi của bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3]. Xét hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Do vậy phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, đủ nhằm giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và cũng nhằm để răn đe và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

[4]. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đó là tình giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ luật hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử cũng cần cân nhắc xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[5]. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội đối với nhiều người, chưa được xóa án về Tội đánh bạc, nay lại phạm tội, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo qui định tại điểm g và h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7]. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho tất cả 14 bị hại với tổng cộng số tiền là 128.800.000 đồng. Tại phiên tòa bị hại anh Bàn Tiến T1 yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm số tiền 3.200.000 đồng H đã chiếm đoạt nhưng anh T1 chưa kê khai trong quá trình điều tra, bị cáo thừa nhận nên HĐXX chấp nhận yêu cầu của anh T1, buộc bị cáo phải bồi thường tổng số tiền là 132.000.000 đồng cho 14 bị hại.

[8]. Về xử lý vật chứng: Không có.

[9]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST và án phí dân sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 174; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm g và điểm h khoản 1 Điều 52; Khoản 1 Điều 53 và Điều 38 của Bộ luật hình sự,

  1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 42 (Bốn mươi hai) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

  2. Về trách nhiệm dân sự:

    Căn cứ vào các Điều 13, 584, 585 và 586 của Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo H phải:

    • + Bồi thường số tiền 13.000.000 đồng cho Nguyễn Minh Đ,
    • + Bồi thường số tiền 13.000.000 đồng cho Lê Văn T,
    • + Bồi thường số tiền 6.000.000đồng cho Trần Văn H3,
    • + Bồi thường số tiền 12.500.000đồng cho Nguyễn Văn H4,
    • + Bồi thường số tiền 13.000.000 đồng cho Bàn Tiến T1,
    • + Bồi thường số tiền 8.000.000 đồng cho Lê Văn L,
    • + Bồi thường số tiền 4.000.000 đồng cho Đỗ Huy H5,
    • + Bồi thường số tiền 13.000.000 đồng cho Trần Hương T2,
    • + Bồi thường số tiền 13.000.000 đồng cho Đỗ Thị H6,
    • + Bồi thường số tiền 4.000.000 đồng cho Nguyễn Đình H7,
    • + Bồi thường số tiền 8.500.000 đồng cho Nguyễn Anh P,
    • + Bồi thường số tiền 6.000.000 đồng cho Nguyễn Thế Q,
    • + Bồi thường số tiền 4.000.000 đồng cho Nguyễn Văn T3,
    • + Bồi thường số tiền 14.000.000 đồng cho Mỹ Văn H8.

    Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trườnghợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 của Bộ luật dân sự 2015.

  3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 6.600.000 đồng án phí dân sự.
  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND Thành phố Hà Nội;
  • - VKSNDThành phố Hà Nội;
  • - VKSNDTX Sơn Tây;
  • - CCTHADS TX Sơn Tây;
  • - Công an TX Sơn Tây;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án/VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Tú

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 77/2024/HSST ngày 19/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY - TP. HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 77/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY - TP. HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger