TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 77/2024/HS-ST Ngày 17-7-2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Oanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Chung và ông Nguyễn Văn Thụ
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trung Dũng, Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai, Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 67/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Văn B, sinh năm 1976 tại thị trấn P, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tên gọi khác: Không.
Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố P, thị trấn P, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn thể: không; con ông Nguyễn Minh Đ, sinh năm 1944; con bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1952; vợ: Giáp Thị M, sinh năm 1978; bị cáo có 02, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 1999; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 20/3/2024 đến ngày 29/3/2024, hiện bị can đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Họ và tên: Dương Văn M1, sinh năm 1966 tại xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tên gọi khác: Không.
Nơi ĐKHKTT: Thôn N, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn thể: không; con ông Dương Cao S1, sinh năm 1932 (đã chết); con bà Hoàng Thị N, sinh năm 1936; vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1968; bị cáo có 03, con lớn nhất sinh năm 1988, con nhỏ nhất sinh năm 1993; tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Bản án số 66/2013/HS-ST ngày 24/7/2013 Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xử phạt Dương Văn M1 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc, miễn khấu trừ thu nhập; phạt bổ sung 5.000.000 đồng, án phí 200.000 đồng. Ngày 11/9/2013 M1 chấp hành xong khoản án phí, hình phạt bổ sung.
Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 20/3/2024 đến ngày 29/3/2024, hiện bị can đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Họ và tên: Đỗ Đức L, sinh năm 1981 tại thị trấn P, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tên gọi khác: Không.
Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố P, thị trấn P, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn thể: không; con ông Đỗ Đức L1, sinh năm 1957; con bà Hoàng Thị L2, sinh năm 1959; vợ: Nguyễn Thị N1, sinh năm 1989; bị cáo có 03, con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 21/QĐ-XPHC ngày 31/5/2018 của Công an huyện L xử phạt L về hành vi “Đánh bạc”.
Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 20/3/2024 đến ngày 29/3/2024, hiện bị can đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh năm 1977 tại xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tên gọi khác: Không.
Nơi ĐKHKTT: Thôn N, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn thể: không; con ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1932; con bà Hoàng Thị H1, sinh năm 1936; vợ: Nguyễn Thị G, sinh năm 1978; bị cáo có 02, con lớn sinh năm 1996, con nhỏ sinh năm 2000; tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Bản án số 25/2013/HSST ngày 13/3/2013 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang, xử phạt Nguyễn Văn T 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Đánh bạc và án phí 200.000 đồng. Ngày 24/5/2013 T đã chấp hành xong khoản án phí trên.
Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 20/3/2024 đến ngày 29/3/2024, hiện bị can đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Họ và tên: Giáp Thị M, sinh năm 1976 tại xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tên gọi khác: Không.
Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố P, thị trấn P, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn thể: không; con ông Giáp Văn T1, sinh năm 1944; con bà Nguyễn Thị G1 (đã chết); chồng: Nguyễn Văn B, sinh năm 1978; bị cáo có 02, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 1999; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo đầu thú ngày 17/4/2024, được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Họ và tên: Nguyễn Văn T2, sinh năm 1981 tại xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tên gọi khác: Không.
Nơi ĐKHKTT: Thôn N, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn thể: Đảng viên Đ1 (đã bị khai trừ theo Quyết định số 201-QĐ/UBKTHU ngày 24/6/2024); con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1958; con bà Nguyễn Thị N2, sinh năm 1959; vợ: Lê Thị H2, sinh năm 1983; bị cáo có 01 con sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo đầu thú ngày 29/3/2024, được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 19 giờ 20 phút ngày 20/3/2024 tại trang trại chăn nuôi ở thôn N, xã C, huyện L của gia đình Nguyễn Văn B, Công an huyện L bắt quả tang Nguyễn Văn B (là chủ nhà), Dương Văn M1, Nguyễn Văn T và Đỗ Đức L đang có hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh sâm, sát phạt nhau bằng tiền bằng bộ bài tú lơ khơ 52 quân.
Vật chứng thu giữ gồm: Số tiền 13.160.000 đồng; 01 thảm nỉ màu đỏ; 02 bộ bài tú lơ khơ (trong đó 01 bộ có mặt màu xanh và 01 bộ có mặt màu đỏ).
Kiểm tra thu giữ trên người các đối tượng: Nguyễn Văn B 01 điện thoại Iphone 8 màu vàng; Đỗ Đức L 01 điện thoại samsung S23 Ultra và số tiền 70.000 đồng; Dương Văn M1 01 điện thoại Iphone X màu vàng và số tiền 2.600.000 đồng; Nguyễn Văn T 01 điện thoại Iphone 12 màu xanh và số tiền 30.000 đồng.
Ngày 29/3/2024 và 17/4/2024 lần lượt Nguyễn Văn T2 và Giáp Thị M đến Công an huyện L đầu thú, T2 giao nộp số tiền 200.000 đồng.
Tại cơ quan điều tra các đối tượng khai nhận như sau: Khoảng 12 giờ trưa ngày 20/3/2024, Nguyễn Văn B cùng vợ là Giáp Thị M đi ăn cỗ ở thôn N, xã C, huyện L rồi vào trang trại chăn nuôi của gia đình thăm nom. Tại đây B, M gặp Dương Văn M1 và Nguyễn Văn T đến trang trại chơi, uống nước. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày thì B, M, M1 và T cùng rủ nhau đánh bạc, hình thức đánh sâm, sát phạt nhau bằng tiền. Bính, M, M1, T xuống nhà kho của trang trại thấy có 01 chiếc thảm nỉ màu đỏ đã trải sẵn và 02 bộ bài tú lơ khơ có sẵn trong nhà kho (do B mua từ trước). Bính bỏ 02 bộ bài xuống thảm để B, M, T, M1 cùng nhau đánh bạc.
Về hình thức đánh bạc: Các bị cáo sử dụng bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài từ quân A đến quân K. Bắt đầu ván bạc, người chia bài chia đều cho mỗi người 10 quân bài. Người có lá bài to nhất sẽ được đánh trước, từ ván thứ hai trở đi, ai thắng ở ván trước sẽ được đánh trước.
Độ lớn của các quân bài theo thứ tự: 3<4<5<6<7<8<9<10<J<Q<K<A<2. Không phân biệt các chất rô, cơ, tép, bích của các quân bài.
Cách xếp bài Sâm như sau:
- Bài lẻ: Các lá bài lẻ, không có bài giống nhau, không xếp thành đôi hay cặp.
- Bài đôi: Có 02 quân bài cùng quân như: 33, 44, 55, 66,...
- Bài xám: Có 03 quân bài cùng quân như: 333, 444, 555,...
- Tứ quý: Có 04 quân bài cùng quân như: 3333, 4444,...
- Bài sảnh: Có các quân bài liên tiếp nhau, tối thiểu 03 quân bài trở lên như: 345, 6789, 910JQKA,... Sảnh nhỏ nhất là 123, lớn nhất là QKA.
Các từ ngữ sử dụng khi đánh Sâm:
- Báo sâm: Khi lên bài mà người chơi nào chắc chắn rằng nếu được đánh trước sẽ không ai bắt được bài mà người chơi đó đánh ra và đánh hết bài không bị chặn lại bởi người chơi khác. Nếu nhiều người cùng báo Sâm thì ai báo Sâm trước sẽ được đánh trước.
- Chặt (chặn): 01 tứ quý chặn được một quân 2, tứ quý lớn chặn tứ quý nhỏ hơn.
- Đè: Là chặn từ 02 lần trở lên trong một vòng chơi. Ví dụ: Tứ quý 4 chặn tứ quý 3, Tứ quý 5 chặn tứ quý 4 thì người đánh tứ quý 3 bị đè và phải trả tiền cho người đánh tứ quý 5. Trong trường hợp đè, người đánh quân 2 không mất tiền.
- Ăn trắng (thắng trắng): Là thắng ngay sau khi chia bài xong (không cần đánh), xảy ra khi người chơi nào có bài đặc biệt như: sảnh 10 quân bài (ví dụ: 3,4,5,6,7,8,9,10,J,Q); tứ quý 2; 10 quân bài cùng màu đỏ hoặc đen; 05 đôi hoặc 03 bài xám.
- Cháy: Một người chơi không đánh được quân bài nào trong khi đã có người đánh hết quân bài.
- Đền: Có 02 loại đền là đền trắng và đền B1. Đền T3 là khi người chơi có bài lớn hơn nhưng không bắt để đối phương đánh tới trắng hoặc báo sâm thành công thì người chơi này phải đền cho tất cả người chơi còn lại. Còn đền báo là khi người chơi xin báo sâm nhưng bài đánh ra bị chặn bởi người khác thì phải đền cho tất cả người chơi còn lại.
- Xin làng: Nếu người chơi thấy bài của mình có khả năng thắng cao, không có ai chặn được thì người chơi xin làng (xin những người chơi còn lại) báo sâm để được đánh trước. Người chơi đánh lần lượt bài của mình xuống. Nếu đánh hết bài thì người đó thắng, nếu không được thì người đó phải đền L3.
Sau khi người đầu tiên đánh bài thì người sau sẽ phải chặn bài với quân bài hoặc bộ bài tương tự lớn hơn. Khi đánh ra quân bài mà không có ai chặn thì coi như vòng đó bỏ qua, người chơi đó tiếp tục đánh tiếp vòng mới. Người nào đánh hết các quân bài trước là người thắng. Người chơi để quân 2 cuối cùng thì tính là bị thối và phạt tiền. Khi trên tay người chơi còn 01 quân bài thì người đó phải báo. Lúc này, người chơi tiếp theo sẽ tiến hành chặn để người báo không đánh hết bài. Người chơi cuối đánh trước người báo mà không đánh quân bài to nhất để người báo về nhất thì sẽ phải đền L3. Các đối tượng thống nhất đánh sâm với mức 10.000 đồng/ 01 quân bài. Người nào B2 sẽ được những người chơi còn lại trả cho 200.000 đồng/01 người. Người nào cháy sẽ phải trả cho người thắng số tiền 150.000 đồng. Những người khác còn bao nhiêu quân bài thì phải trả cho người thắng số tiền bằng số quân bài nhân 10.000 đồng.
Khi B, M, M1, T đánh bạc đến khoảng 14 giờ cùng ngày thì Nguyễn Văn T2 đến cùng tham gia đánh bạc. Các đối tượng đánh bạc đến khoảng 14 giờ 15 phút cùng ngày thì Đỗ Đức L (là lái xe ở trang trại chăn nuôi của B) đến ngồi xem đánh bạc. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, M thua hết tiền nên đứng dậy thì L vào ngồi chỗ của M rồi cùng tham gia đánh bạc. Các đối tượng đánh bạc đến khoảng 15 giờ 20 phút cùng ngày thì T2 có việc nên đứng dậy đi về. Khi B, M1, T, L đánh bạc đến khoảng 18 giờ cùng ngày thì B đi lấy vắc xin nên M vào ngồi thay Bính tiếp tục đánh bạc (M sử dụng tiền của B để lại dưới chiếu). Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày B quay lại thay chỗ của M rồi cùng M1, T và L đánh bạc đến khoảng 19 giờ 20 phút cùng ngày thì bị Công an huyện L kiểm tra bắt quả tang, thu giữ vật chứng
Về số tiền thu giữ khi bắt quả tang và thu giữ trên người các đối tượng khai nhận như sau:
- Nguyễn Văn B khai trước khi tham gia đánh bạc có 4.000.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt tiền được thua để dưới chiếu bạc.
- Dương Văn M1 khai trước khi tham gia đánh bạc có 5.000.000 đồng, M1 bỏ 2.400.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt tiền được thua để dưới chiếu bạc. Số tiền 2.600.000 đồng thu giữ trên người M1 không sử dụng vào mục đích đánh bạc.
- Nguyễn Văn T khai trước khi tham gia đánh bạc có 3.530.000 đồng, T bỏ 3.500.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt tiền được thua để dưới chiếu bạc. Số tiền 30.000 đồng thu giữ trên người T không sử dụng vào mục đích đánh bạc.
- Giáp Thị M khai trước khi tham gia đánh bạc có 470.000 đồng để đánh bạc và đã bị thu hết.
- Đỗ Đức L khai trước khi tham gia đánh bạc có 3.070.000 đồng, L bỏ 3.000.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt tiền được thua để dưới chiếu bạc. Số tiền 70.000 đồng thu giữ trên người L không sử dụng vào mục đích đánh bạc.
- Nguyễn Văn T2 khai trước khi tham gia đánh bạc có 500.000 đồng để đánh bạc. Khi về T2 thua bạc còn 200.000 đồng đã giao nộp.
Tổng số tiền thu giữ tại chiếu bạc và số tiền thu giữ trên người xác định dùng vào việc đánh bạc là 13.360.000 đồng.
Về vật chứng: Số tiền 16.060.000 đồng; 01 thảm nỉ màu đỏ; 02 bộ bài tú lơ khơ; 01 điện thoại Iphone 8 Plus màu đỏ; 01 điện thoại Iphone X màu vàng gold; 01 điện thoại Sam Sung S23 Ultra; 01 điện thoại Iphone 12, Cơ quan điều tra chuyển xử lý cùng vụ án.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn T, Dương Văn M1, Đỗ Đức L, Giáp Thị M và Nguyễn Văn T2 thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại bản cáo trạng số: 71/CT-VKS ngày 18/6/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn T, Dương Văn M1, Đỗ Đức L, Giáp Thị M và Nguyễn Văn T2 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, các bị cáo không bị oan. Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam đã phát biểu lời luận tội đối với các bị cáo, phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi mà các bị cáo đã thực hiện, nhân thân các bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo đã giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Áp dụng: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn B từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù về tội “Đánh bạc”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung bị cáo B 10.000.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước.
- + Áp dụng: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù về tội “Đánh bạc”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung bị cáo T 10.000.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước.
- Xử phạt: Bị cáo Dương Văn M1 từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù về tội “Đánh bạc”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung bị cáo M1 10.000.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước.
- + Áp dụng: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Đỗ Đức L từ 07 tháng tù đến 09 tháng tù về tội “Đánh bạc”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 tháng đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung bị cáo L 10.000.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước.
- + Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Giáp Thị M số tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước về tội “Đánh bạc”.
- + Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T2 số tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước về tội “Đánh bạc”.
- + Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 thảm nỉ màu đỏ; 02 bộ bài tú lơ khơ.
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 13.360.000 đồng đã được nhập vào tài khoản số 3949.09048646.00000 của Công an huyện L lập tại Kho bạc nhà nước huyện L.
Trả lại bị cáo Nguyễn Văn B 01 điện thoại Iphone 8 Plus màu đỏ nhưng cần tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.
Trả lại bị cáo Dương Văn M1 số tiền 2.600.000 đồng và 01 điện thoại Iphone X màu vàng gold nhưng cần tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.
Trả lại cho bị cáo Đỗ Đức L số tiền 70.000 đồng và 01 điện thoại Sam Sung S23 Ultra nhưng cần tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T số tiền 30.000 đồng và 01 điện thoại Iphone 12 nhưng cần tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.
+ Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn T, Dương Văn M1, Đỗ Đức L, Giáp Thị M và Nguyễn Văn T2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi và quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Trước cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà cơ quan điều tra đã thu thập được thể hiện trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm và diễn biến của quá trình các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Hồi 19 giờ 20 phút, ngày 20/3/2024, tại trang trại chăn nuôi của gia đình Nguyễn Văn B, ở thôn N, xã C, huyện L, các đối tượng Nguyễn Văn B (là chủ nhà), Nguyễn Văn T, Dương Văn M1 và Đỗ Đức L đang có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh sâm bằng bộ bài tú lơ khơ 52 quân, sạt phạt nhau bằng tiền thì bị Công an huyện L kiểm tra bắt quả tang
Nguyễn Văn T2 và Giáp Thị M có tham gia đánh bạc cùng B, T, M1 và L nghỉ trước khi bắt quả tang. Tổng số tiền thu giữ tại chiếu bạc, số tiền thu giữ trên người các bị cáo B, T2, T, M, L, M1 dùng vào việc đánh bạc là 13.360.000 đồng.
[3] Xét tính chất của vụ án: Vụ án này có sáu bị cáo có đủ năng lực hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng gây mất trật tự trị an tại địa phương, đây cũng chính là nguyên nhân có thể dẫn đến các loại tội phạm khác. Tổng số tiền các bị cáo đánh bạc 13.360 đồng. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Đánh bạc" theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Do đó, cần phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội. Trong vụ án này, các bị cáo đánh bạc, khi thực hiện hành vi không có sự bàn bạc, không liên kết chặt chẽ, các bị cáo thực hiện hành vi mang tính chất đồng phạm giản đơn nên không có căn cứ xác định các bị cáo phạm tội có tổ chức. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố tình thực hiện. Vì vậy, đối với các bị cáo cần áp dụng một mức hình phạt nghiêm minh để đảm bảo tính giáo dục đối với các bị cáo và làm bài học ngăn ngừa chung.
Trong vụ án này, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mang tính chất đồng phạm giản đơn nên cần áp dụng Điều 17, Điều 58 khi quyết định hình phạt.
[4] Xét vai trò phạm tội của từng bị cáo:
- Vai trò thứ nhất: Bị cáo Nguyễn Văn B là chủ nhà, đồng ý cho các bị cáo đánh bạc tại nhà mình và bản thân bị cáo cũng trực tiếp tham gia đánh bạc với số tiền lớn nhất là 4.000.000 đồng.
- Vai trò thứ hai: Bị cáo Nguyễn Văn T tham gia đánh bạc với số tiền là 3.500.000 đồng; bị cáo Đỗ Đức L tham gia đánh bạc với số tiền là 3.000.000 đồng và bị cáo Dương Văn M1 tham gia đánh bạc với số tiền là 2.400.000 đồng.
- Vai trò thứ ba: Bị cáo Nguyễn Văn T2 tham gia đánh bạc với số tiền là 500.000 đồng và bị cáo Giáp Thị M tham gia đánh bạc với số tiền là 470.000 đồng.
[5] Về nhân thân: + Tại Bản án số 66/2013/HS-ST ngày 24/7/2013 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xử phạt Dương Văn M1 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc, miễn khấu trừ thu nhập; phạt bổ sung 5.000.000 đồng, án phí 200.000 đồng. Ngày 11/9/2013 M1 chấp hành xong khoản án phí, hình phạt bổ sung.
+ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 21/QĐ-XPHC ngày 31/5/2018 của Công an huyện L xử phạt Đỗ Đức L về hành vi “đánh bạc”.
+ Bản án số 25/2013/HSST ngày 13/3/2013 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang, xử phạt Nguyễn Văn T 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Đánh bạc và án phí 200.000 đồng. Ngày 24/5/2013 T đã chấp hành xong khoản án phí trên.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- + Bị cáo Nguyễn Văn B trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có bố đẻ là ông Nguyễn Minh Đ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba do đã có công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Do vậy, cần áp dụng điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo B.
- + Bị cáo Nguyễn Văn T trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có bố đẻ là ông Nguyễn Văn K được Chủ tịch nước C tặng huy chương kháng chiến hạng nhì do có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Do vậy, cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo T.
- + Bị cáo Đỗ Đức L trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do vậy, cần áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo L.
- + Bị cáo Dương Văn M1 trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có mẹ đẻ là bà Hoàng Thị N được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì do có thành tích trong cuộc kháng chiến lâu dài và anh dũng của dân tộc. Do vậy, cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo M1.
- + Bị cáo Nguyễn Văn T2 trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; khi vụ việc bị phát hiện bị cáo đã đến cơ quan điều tra để đầu thú; trong quá trình công tác bị cáo đã được tặng danh hiệu “Chiến sĩ giỏi, Chiến sỹ đại đội 32-Trung đoàn 328- Sư đoàn C1 vào năm 2002”, “Chiến sĩ giỏi, khẩu đội trưởng khẩu đội- Đại đội 32 thuộc Trung đoàn B3, năm 2003”, “Bằng khen khẩu đội trưởng- Đại đội 23, đạt danh hiệu Mười gương mặt thanh niên tiêu biểu, năm 2003”, Sư đoàn phòng không 365 tặng “Giấy khen vì đã có thành tích trong thực hiện phong trào Đoàn thanh niên năm 2003”; được Chủ tịch UBND huyện Lục Nam tặng “Giấy khen vì đã có thành tích xuất sắc trong công tác Quốc phòng- Quân sự địa phương năm 2019”, và giấy khen “Vì thành tích xuất sắc trong bồi dưỡng kiến thức Quốc phòng và an ninh, đối tượng 3 khóa 118 năm 2022”; bị cáo có ông nội là Nguyễn Văn V được nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng ba vì đã có công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và Huân chương kháng chiến hạng nhất vì đã có công trong cuộc kháng chiến lâu dài và anh dũng của dân tộc; gia đình ông Nguyễn Văn V được tặng “Bảng gia đình vẻ vang vì có một quân nhân chống Mỹ Cứu nước Nguyễn Văn P”. Do vậy, cần áp dụng điểm i, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo T2.
- + Bị cáo Giáp Thị M trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; khi vụ việc bị phát hiện bị cáo đã đến cơ quan điều tra để đầu thú; bị cáo có bố đẻ là ông Giáp Văn T1 được Nhà nước tặng huy chương kháng chiến hạng nhất do có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Do vậy, cần áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo M.
[8] Bản thân các bị cáo Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn T, Dương Văn M1 và Đỗ Đức L có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, có nơi thường trú cụ thể rõ ràng. Căn cứ vào Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn T, Dương Văn M1 và Đỗ Đức L ra khỏi xã hội mà cho các bị cáo Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn T, Dương Văn M1 và Đỗ Đức L được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương cũng đủ điều kiện để giáo dục các bị cáo Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn T, Dương Văn M1 và Đỗ Đức L trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời thể hiện tính nhân đạo của P1.
Bản thân bị cáo Nguyễn Văn T2 và Giáp Thị M tham gia đánh bạc với số tiền nhỏ, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử thấy không cần thiết bắt các bị cáo chấp hành hình phạt tù giam, mà cho các bị cáo hưởng mức án nhẹ là phạt tiền cũng đủ điều kiện để giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời thể hiện tính nhân đạo của P1.
[9] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt tù là hình phạt chính, cần phạt tiền các bị cáo Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn T, Dương Văn M1 và Đỗ Đức L theo quy định tại khoản 3 Điều 321 BLHS để tước một phần kinh tế của các bị cáo thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
Đối với bị cáo T2 và bị cáo M đã áp dụng phạt tiền là hình phạt chính thì không cần thiết phải phạt tiền là hình phạt bổ sung. Do vậy, HĐXX miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo T2 và bị cáo M.
[10] Về vật chứng: Đối với số tiền 13.360.000 đồng đã được nhập vào tài khoản số 3949.09048646.00000 của Công an huyện L lập tại Kho bạc nhà nước huyện L là số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước, HĐXX xét thấy cần chấp nhận.
Đối với số tiền 2.600.000 đồng của bị cáo Dương Văn M1, số tiền 70.000 đồng của bị cáo Đỗ Đức L và số tiền 30.000 đồng của bị cáo Nguyễn Văn T (đã được nhập vào tài khoản số 3949.09048646.00000 của Công an huyện L lập tại Kho bạc nhà nước huyện L) là số tiền các bị cáo không sử dụng vào việc đánh bạc nên cần trả lại cho các bị cáo M1, L và T nhưng cần tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án, HĐXX xét thấy cần chấp nhận.
Đối với 01 thảm nỉ màu đỏ; 02 bộ bài tú lơ khơ là vật chứng của vụ án nên cần tịch thu tiêu hủy, HĐXX xét thấy cần chấp nhận.
Đối với 01 điện thoại Iphone 8 Plus màu đỏ số IMEI 354832092384252, số seri: F17WLFSSJWLM của bị cáo Nguyễn Văn B; 01 điện thoại Iphone X màu vàng gold số Seri: GR4DQ0NVKPFR, số IMEI: 353145102332653 của bị cáo Dương Văn M1; 01 điện thoại Sam Sung S23 Ultra số Seri: R5CWB2WN7LJ, số IMEI 1: 355157586000746, IMEI 2: 355867886000747 của bị cáo Đỗ Đức L; 01 điện thoại Iphone 12 màu xanh số Seri: FFXDR5P50F03, số IMEI: 35 3047112144294 của bị cáo Nguyễn Văn T không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho các bị cáo B, M1, L và T nhưng cần tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án, HĐXX xét thấy cần chấp nhận.
(Vật chứng của vụ án như trong Biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Nam).
[11] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn T, Dương Văn M1, Đỗ Đức L, Giáp Thị M và Nguyễn Văn T2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[12] Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn B 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”, cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung bị cáo B 20.000.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước.
- Áp dụng: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”, cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung bị cáo T 20.000.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước.
- Áp dụng: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Dương Văn M1 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”, cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung bị cáo M1 20.000.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước.
- Áp dụng: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Đỗ Đức L 07 (bẩy) tháng tù về tội “Đánh bạc”, cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung bị cáo L 20.000.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước.
Giao các bị cáo Nguyễn Văn B và Đỗ Đức L cho UBND thị trấn P, huyện L giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao các bị cáo Nguyễn Văn T và Dương Văn M1 cho UBND xã C, huyện L giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của BLHS.
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35, Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Giáp Thị M số tiền 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng) để sung vào công quỹ Nhà nước về tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T2 số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) để sung vào công quỹ Nhà nước về tội “Đánh bạc”.
- Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 BLTTHS.
Tịch thu tiêu hủy 01 thảm nỉ màu đỏ; 02 bộ bài tú lơ khơ.
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 13.360.000 đồng đã được nhập vào tài khoản số 3949.09048646.00000 của Công an huyện L lập tại Kho bạc nhà nước huyện L.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn B 01 điện thoại Iphone 8 Plus màu đỏ số IMEI 354832092384252, số seri: F17WLFSSJWLM nhưng cần tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.
Trả lại cho bị cáo Dương Văn M1 số tiền 2.600.000 đồng (tại tài khoản số 3949.09048646.00000 của Công an huyện L lập tại Kho bạc nhà nước huyện L) và 01 điện thoại Iphone X màu vàng gold số Seri: GR4DQ0NVKPFR, số IMEI: 353145102332653 nhưng cần tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.
Trả lại cho bị cáo Đỗ Đức L số tiền 70.000 đồng (tại tài khoản số 3949.09048646.00000 của Công an huyện L lập tại Kho bạc nhà nước huyện L) và 01 điện thoại Sam Sung S23 Ultra số Seri: R5CWB2WN7LJ, số IMEI 1: 355157586000746, IMEI 2: 355867886000747 nhưng cần tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T số tiền 30.000 đồng (tại tài khoản số 3949.09048646.00000 của Công an huyện L lập tại Kho bạc nhà nước huyện L) và 01 điện thoại Iphone 12 màu xanh số Seri: FFXDR5P50F03, số IMEI: 35 3047112144294 nhưng cần tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.
(Vật chứng của vụ án như trong Biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Nam).
- Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 - BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn T, Dương Văn M1, Đỗ Đức L, Giáp Thị M và Nguyễn Văn T2, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 332 và 333- BLTTHS
Án xử công khai sơ thẩm, báo cho các bị cáo có mặt biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán –Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Ngọc Oanh |
Bản án số 77/2024/HS-ST ngày 17/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG về hình sự về tội đánh bạc
- Số bản án: 77/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội đánh bạc
