Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2024/KDTM-PT

Ngày: 17-4-2024

V/v tranh chấp hợp đồng mua bán

hàng hóa

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Đào Quốc Thịnh

Các Thẩm phán:Bà Vũ Thị Hường

Bà Lưu Thị Đoan Trang

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hiệp Định – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Việt Anh – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 20 tháng 3 và 17 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 3/2024/TLPT-KDTM ngày 03 tháng 01 năm 2024 về: “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 209/2023/KDTM-ST ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 762/2024/QĐ-PT ngày 21 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Công ty TNHH T1
  2. Địa chỉ: E B, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hà Văn Q, sinh năm 1993; địa chỉ: Số C (tầng A) N, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản ủy quyền ngày 05/10/2020).

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Đàm Bảo H, Luật sư của Văn phòng L, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H.

  3. Bị đơn: Công ty TNHH Đ1
  4. Địa chỉ: 2 N, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Đại B, sinh năm 1969; Địa chỉ: 2 N, Phường C, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản ủy quyền ngày 18/01/2024).

  5. Người kháng cáo: Nguyên đơn Công ty TNHH T1 và bị đơn Công ty TNHH Đ1.
  6. (Tại phiên tòa: Ông Q, ông Đ và ông B có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nội dung bản án sơ thẩm đã thể hiện:

Tại Đơn khởi kiện đề ngày 27/8/2020, Đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện ngày 23/02/2021 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn Công ty TNHH T1 có ông Hà Văn Q là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Công ty TNHH T1 (sau đây gọi tắt là Công ty T1) và Công ty TNHH Đ1 (sau đây gọi tắt là Công ty Đ1) có đặt hàng qua email để Công ty T1 bán đá Granite là đá gãy tận thu của nhà máy được bán nguyên kiện với giá sỉ (không bán lẻ từng tấm) cho Công ty Đ1:

- Email đơn đặt hàng số 001/06-2019 ngày 06/6/2019 với nội dung: Công ty T1 bán cho Công ty Đ1 1.635m² đá Granite honed mặt 60 x 60 x 1.6cm, 200m² đá granite honed mặt 120 x 150 x 60 x 5cm và 600m² đá granite đánh bóng 1 mặt dài 60 x 1.6cm với tổng giá trị đơn hàng là 768.000.000 đồng; điều kiện thanh toán tạm ứng 30% giá trị lô hàng tương ứng 230.000.000 đồng, số tiền này sẽ được trừ vào đợt giao hàng cuối cùng, thanh toán ngay từng đợt sau khi nhận hàng. Thực hiện hợp đồng, ông V đại diện cho Công ty Đ1 đã chuyển khoản 230.000.000 đồng cho Công ty T1 để tạm ứng theo yêu cầu của đơn đặt hàng và Công ty T1 đã giao hàng có tổng giá trị là 886.467.000 đồng và Công ty Đ1 đã thanh toán tổng số tiền hàng là 886.467.000 đồng. Như vậy, đơn đặt hàng số 001/06-2019, các bên đã hoàn thành quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng thỏa thuận, đồng thời số tiền tạm ứng 230.000.000 đồng của đơn đặt hàng này vẫn đang được Công ty T1 bảo lưu.

- Email đơn đặt hàng số 001/07-2019 ngày 10/7/2019 với nội dung: Công ty T1 bán cho Công ty Đ2 không cắt quy cách 60 x 60 x 1.6cm, số lượng 5.000m², đơn giá 270.000 đồng, thành tiền 1.350.000.000 đồng, tạm ứng 30% giá trị lô hàng tương ứng 500.000.000 đồng, số tiền được cấn trừ vào từng đợt giao hàng khi giao hàng cuối cùng, thanh toán ngay từng đợt sau khi giao hàng. Thực hiện hợp đồng, ngày 26/7/2019, Công ty Đ1 đã chuyển khoản 500.000.000 đồng cho Công ty T1 tạm ứng 30% giá trị lô hàng theo yêu cầu của đơn đặt hàng. Email đơn đặt hàng 001/07-2019 Công ty Đ1 không ký tên, đóng dấu mà là do Công ty Đ1 (ông V) nhắn tin qua zalo yêu cầu Công ty T1 (bà T) giao thêm 5.000m² đá Granite Honed không cắt quy cách 60 x 60 x 1.6cm, được thể hiện qua tin nhắn tại trang số 20 Vi bằng số 671/2020/VBTPL ngày 27/11/2020. Thực tế việc giao hàng và thanh toán tiền hàng như sau:

+ Ngày 02 và 04/7/2019, Công ty T1 giao 05 kiện đá granite với giá 79.096.500 đồng; Ngày 13/7/2019, Công ty T1 giao 01 xe đá granite với giá trị 302.486.400 đồng; Ngày 23/7/2019, Công ty T1 giao 01 xe đá granite với giá trị 280.033.200 đồng; Ngày 01/8/2019, Công ty T1 giao 01 xe đá granite với giá trị 208.854.000 đồng; Ngày 02/8/2019, Công ty T1 giao 01 xe đá granite với giá trị 393.211.800 đồng.

+ Tổng giá trị đá granite mà Công ty T1 đã giao cho Công ty Đ1 theo đơn đặt hàng số 001/07-2019 là 1.263.681.900 đồng. Cấn trừ với số tiền tạm ứng 230.000.000 đồng còn giữ lại của đơn đặt hàng 001/06-2019 và số tiền tạm ứng hàng của đơn đặt hàng 001/07-2019 là 500.000.000 đồng thì Công ty Đ1 còn phải thanh toán cho Công ty T1 số tiền 938.691.300 đồng. Tuy nhiên, sau thời gian suy nghĩ xem xét và căn cứ theo tình hình thực tế hiện nay, Công ty T1 có đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể: Rút lại yêu cầu buộc Công ty Đ1 thanh toán số tiền mua hàng còn thiếu là 405.000.000 đồng, chỉ yêu cầu Công ty Đ1 thanh toán số tiền nợ gốc là 533.691.300 đồng (làm tròn là 533.691.000 đồng).

Mặc dù Công ty T1 đã yêu cầu thanh toán số tiền trên nhưng Công ty Đ1 vẫn không thanh toán. Do đó, Công ty T1 yêu cầu Tòa án giải quyết các nội dung như sau:

  • Buộc Công ty Đ1 phải thanh toán số tiền nợ gốc là 533.691.300 đồng (làm tròn là 533.691.000 đồng).
  • Buộc Công ty Đ1 phải thanh toán tiền lãi chậm trả theo mức lãi suất 8%/năm tính từ ngày đến hạn thanh toán là ngày 01/9/2019 đến ngày 27/9/2023 là 173.864.368 đồng (làm tròn là 173.864.000 đồng).
  • Tổng cộng nợ gốc và lãi là 707.555.668 đồng (làm tròn là 707.555.000 đồng). Yêu cầu trả ngay khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.

Bị đơn Công ty TNHH Đ1 có ông Vũ Đại B là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Công ty Đ1 xác nhận Công ty T1Công ty Đ1 có giao kết đơn đặt hàng số 001/06-2019 ngày 06/6/2019, đơn đặt hàng số 001/07-2019 ngày 10/7/2019 và đơn đặt hàng trao đổi qua Zalo ngày 10/6/2019.

Trong ngày 10/7/2019 Công ty Đ1 có yêu cầu đặt hàng tiếp 5.000m² đá theo đơn đặt hàng 001/06-2019 với chủng loại và đơn giá theo đơn đặt hàng số 001/06-2019. Công ty T1 yêu cầu tạm ứng trước 405.000.000 đồng nên Công ty Đ1 đã tạm ứng trước 500.000.000 đồng. Đơn đặt hàng ngày 001/07-2019 là do Công ty T1 tự ký để hợp thức hóa về việc Công ty Đ1 còn nợ số tiền 405.000.000 đồng cho 01 chuyến hàng ngày 10/7/2019 nhưng thực tế thì Công ty Đ1 không nhận bất cứ chuyến hàng đá không có quy cách nào mà Công ty T1 giao.

Ngày 03/8/2019, sau khi Công ty Đ1 nhận và kiểm tra hàng đã thông báo với Công ty T1 số lượng đá Granite không đạt chất lượng là 1.331,64m². Công ty T1 xác nhận, xin lỗi và tìm cách khắc phục, đồng thời hứa sẽ chịu trách nhiệm nhưng cho đến nay vẫn chưa xử lý.

Do đó, Công ty Đ1 không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty T1.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 209/2023/KDTM-ST ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn T1:
    1. Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ1 phải thanh toán cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn T1 số tiền nợ gốc là 157.412.000 (Một trăm năm mươi bảy triệu bốn trăm mười hai nghìn) đồng và tiền lãi do chậm thanh toán là 51.297.000 (Năm mươi mốt triệu hai trăm chín mươi bảy nghìn) đồng. Tổng cộng là 208.709.000 (Hai trăm lẻ tám triệu bảy trăm lẻ chín nghìn) đồng.
    2. Trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

    3. Không chấp nhận các yêu cầu của Công ty Trách nhiệm hữu hạn T1 về việc buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ1 phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền gốc là 376.279.000 (Ba trăm bảy mươi sáu triệu hai trăm bảy mươi chín) đồng và tiền lãi do chậm thanh toán là 122.567.000 (Một trăm hai mươi hai triệu năm trăm sáu mươi bảy nghìn) đồng. Tổng cộng là 498.846.000 (Bốn trăm chín mươi tám triệu tám trăm bốn mươi sáu) đồng.
    4. Kể từ ngày Công ty Trách nhiệm hữu hạn T1 có đơn yêu cầu thi hành án, nếu Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ1 không thi hành số tiền nêu trên thì hàng tháng Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ1 còn phải trả tiền lãi trên số tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả.
    5. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ1 thanh toán số tiền mua hàng còn thiếu là 405.000.000 đồng cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn T1.
  2. Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 11/10/2023 nguyên đơn Công ty T1 có đơn kháng cáo với nội dung kháng cáo một phần bản án sơ thẩm.

Ngày 13/10/2023 bị đơn Công ty Đ1 có đơn kháng cáo với nội dung kháng cáo một phần bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người đại diện theo ủy quyền, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn Công ty T1 là ông Hà Văn Q và ông Đàm Bảo H đề nghị Toà án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, với các căn cứ sau đây:

- Về việc giao nhận hàng hoá giữa Công ty T1Công ty Đ1: Vì mối quan hệ tin tưởng lẫn nhau trong kinh doanh cùng ngành nên giữa hai công ty không lập hợp đồng mà chỉ đặt hàng thông qua đơn đặt hàng được gửi qua hộp thư điện tử (mail) và thông qua ứng dụng Chat trực tuyến Z với nhóm C là: “CHÚ VINH IGM-VIÊN TRANG” để trao đổi chi tiết các công việc trong quá trình giao nhận hàng và thanh toán. Đồng thời, việc giao nhận giữa hai bên chỉ lập các phiếu nhận hàng theo mẫu do Công ty Đ1 cấp. Ngoài ra, về số lượng hàng hoá giao nhận đã được các bên thống nhất thông qua các buổi làm việc, hoà giải tại toà. Cụ thể, Biên bản hoà giải ngày 14/04/2021 tại Toà án thì hai bên xác nhận giá trị hàng hoá chưa giải quyết đối với Công ty T1 là 533.691.000 đồng, trong đó hai bên xác nhận công nợ số tiền là 157.411.910 đồng, còn lại số tiền 376.279.200 đồng tương đương với số lượng hàng hoá theo bị đơn trình bày rằng chưa sử dụng hiện đang trong kho của bị đơn.

- Về việc xác định số hàng hoá tranh chấp tương đương với số tiền 376.279.200 đồng, thì vào ngày 01/06/2022, Toà án tiến hành thủ tục thẩm định tại chỗ tại kho của bị đơn, tại đây bị đơn chỉ dẫn tới khu vực để các kiện hàng mà bị đơn cho rằng của nguyên đơn. Tuy nhiên, các kiện hàng do bị đơn chỉ dẫn không còn nguyên vẹn, một số kiện hàng có dấu hiệu tháo dỡ và không có tem hàng của nguyên đơn. Bị đơn chỉ trình bày mà không thể chứng minh đây là hàng hoá do nguyên đơn cung cấp. Đồng thời, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn sau khi xem xét hàng hóa thực tế tại kho hàng của bị đơn thì khẳng định toàn bộ số hàng hoá do bị đơn chỉ dẫn tại buổi thẩm định không phải là hàng hoá của nguyên đơn. Thực tế, bị đơn đã nhận hàng và sử dụng cho công trình tại P. Khi đặt hàng và giao hàng bị đơn cũng đã kiểm tra, trong trường hợp hàng hoá có bị lỗi quy cách thì bị đơn có quyền không nhận hàng. Hơn nữa, ngay từ đầu bị đơn đã biết rất rõ hàng hoá chọn mua của nguyên đơn là đá granite gãy, tận thu của nhà máy đá được bán theo nguyên kiện với giá sỉ, không bán lẻ từng tấm đá và các viên đá trong một kiện sẽ có xác suất không đồng nhất với nhau nên có giá trị rất rẻ so với thị trường. Nguyên tắc thoả thuận hàng hoá này đã được thể hiện rõ qua quá trình thực hiện Đơn đặt hàng số 001/06-2019 ngày 06/6/2019. Căn cứ theo khoản 1 Điều 40 Luật Thương mại hiện hành “Bên bán không chịu trách nhiệm về bất kỳ khiếm khuyết nào của hàng hoá nếu vào thời điểm giao kết hợp đồng mà bên mua đã biết hoặc phải biết về những khuyết điểm đó”. Như vậy, về nguyên tắc, nguyên đơn đã hoàn thành nghĩa vụ bán hàng, giao hàng của mình, bị đơn đã nhận đủ số hàng hoá theo yêu cầu và đúng theo thực tế thì bị đơn đã nhận hàng và sử dụng cho công trình tại P.

- Theo Bản án Sơ thẩm đã tuyên: “Không chấp nhận các yêu cầu của Công ty TNHH T1 về việc buộc Công ty TNHH Đ1 phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền gốc là 376.279.000 đồng và tiền lãi do chậm thanh toán là 122.567.000 đồng. Tổng cộng là 498.846.000 đồng”. Theo đó, nếu trong trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng bị đơn chỉ có nghĩa vụ thanh toán số tiền tương ứng với hàng hoá đã nhận và sử dụng là 157.411.910 đồng, thì số hàng hoá còn lại tương ứng với số tiền 376.279.200 đồng sẽ được xử lý như thế nào? Trong khi, như đã trình bày ở trên thì số hàng hoá này phía bị đơn không thể chứng minh được đâu là hàng hoá của nguyên đơn. Đồng nghĩa, bị đơn không thể trả lại số hàng hoá cho nguyên đơn tương ứng với số tiền 376.279.000 mà bị đơn cho rằng hàng kém chất lượng được. Đây là việc không giải quyết triệt để vụ án, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Công ty Đ1 là ông Vũ Đại B đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa một phần bản án sơ thẩm, theo hướng: Buộc Công ty Đ1 phải thanh toán cho Công ty T1 số tiền nợ gốc là 11.272.000 đồng và tiền lãi do chậm thanh toán là 827.643 đồng, tổng cộng là 12.099.643 đồng; Không chấp nhận các yêu cầu của Công ty T1 về việc buộc Công ty Đ1 phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền nợ gốc là 522.419.000 đồng và tiền lãi do chậm thanh toán là 173.036.357 đồng, tổng cộng là 695.455.357 đồng, với các căn cứ sau đây:

  • Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét giải quyết tranh chấp giữa Công ty T1Công ty Đ1 với tổng số lượng đá granite các loại là 6.619,83m² tương ứng giá trị 2.150.147.910 đồng của đơn đặt hàng số 001/06-2019 ngày 06/6/2019 và đơn đặt hàng số 001/07-2019 là vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu của nguyên đơn vì theo Đơn khởi kiện ngày 27/8/2019 nguyên đơn chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp do vi phạm thanh toán đối với đơn đặt hàng số 001/07-2019 và trong suốt quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn không có bổ sung yêu cầu khởi kiện nào khác được Tòa án thụ lý.
  • Đối với đơn đặt hàng số 001/07-2019: Số tiền chưa giải quyết là 82.519.000 đồng, giá trị số hàng bị lỗi là 71.247.600 đồng, công nợ là 12.272.000 đồng. Tại hai Biên bản hòa giải ngày 23/4/2021 và ngày 14/4/2021 hai bên cùng xác nhận giá trị hàng hóa chưa giải quyết là 533.691.000 đồng, nợ gốc 157.411.910 đồng là nợ gốc của toàn bộ giao dịch phát sinh giữa hai bên. Các lợi khai của người đại diện theo pháp luật của bị đơn là ông Phạm Phạm V1 đều không chấp nhận tính hợp pháp của đơn đặt hàng số 001/07-2019. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã cho rằng bị đơn xác nhận số nợ trên là của đơn đặt hàng số 001/07-2019, là không đúng.
  • Tại Đơn khởi kiện ngày 27/8/2020 nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán tiền lãi chậm thanh toán với lãi suất 8%/năm tính từ ngày đến hạn thanh toán là ngày 01/9/2019 đến ngày 01/8/2020 (335 ngày). Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã tính tiền lãi chậm thanh toán đến ngày 27/9/2023 (1487 ngày) là vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu của nguyên đơn.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:

  • Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử tại phiên tòa, cũng như việc chấp hành pháp luật của các bên đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; do có lý do khách quan nên không vi phạm thời hạn giải quyết vụ án.
  • Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của Công ty T1Công ty Đ1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Đơn kháng cáo của nguyên đơn Công ty T1 và đơn kháng cáo của bị đơn Công ty Đ1 còn trong thời hạn luật định, hợp lệ nên được chấp nhận.

[2] Về phạm vi xét xử phúc thẩm, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Xét, theo các đơn kháng cáo và xác nhận của người đại diện theo ủy quyền của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm thì nguyên đơn và bị đơn chỉ kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, không kháng cáo các mục 1.4 và 1.5 phần quyết định của bản án sơ thẩm. Vì vậy, căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử không giải quyết phần này của bản án sơ thẩm.

Xét, Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xét xử lại vụ án mà bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo. Theo đó, Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét lại vụ án trong phạm vi yêu cầu của các đương sự đã được Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết. Vì vậy, yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn về việc buộc bị đơn thanh toán tiền lãi chậm trả kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm đến ngày xét xử phúc thẩm, là vượt quá yêu cầu khởi kiện đã được Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết, không phù hợp với quy định tại Điều 270 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên không được xem xét.

[3] Về nội dung kháng cáo của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[3.1] Về kháng cáo của bị đơn cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết vượt quá yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Theo Đơn khởi kiện ngày 27/8/2020, nguyên đơn cho rằng, tổng giá trị đá granite mà nguyên đơn đã giao cho bị đơn theo đơn đặt hàng số 001/07-2019 là 1.263.681.900 đồng, cấn trừ với số tiền tạm ứng 230.000.000 đồng còn giữ lại của đơn đặt hàng 001/06-2019 và số tiền tạm ứng hàng của đơn đặt hàng 001/07-2019 là 500.000.000 đồng thì bị đơn còn phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền 938.691.300 đồng, nên yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền 938.691.300 đồng và tiền lãi do chậm thanh toán từ ngày 01/9/2019 đến ngày 01/8/2020 là 75.095.304 đồng. Theo Đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện ngày 23/02/2021, nguyên đơn rút lại yêu cầu buộc bị đơn phải thanh toán số tiền mua hàng còn thiếu là 405.000.000 đồng, chỉ yêu cầu Công ty Đ1 thanh toán số tiền nợ gốc là 533.691.000 đồng và tiền lãi do chậm thanh toán từ ngàu 01/9/2019 tạm tính đến ngày 01/8/2020 là 42.695.304 đồng. Trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cũng đã xác định lại yêu cầu về tiền lãi do chậm thanh toán tạm tính tương ứng với thời gian chậm trả thay đổi.

Xét, căn cứ Đơn khởi kiện ngày 27/8/2020, Đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện ngày 23/02/2021, ý kiến của phía nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án, có cơ sở xác định, nguyên đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án buộc bị đơn thanh toán tiền hàng còn thiếu giữa các bên, không chỉ là khoản nợ phát sinh từ đơn đặt hàng số 001/07-2019 và yêu cầu về tiền lãi do chậm thanh toán tính đến ngày 01/8/2020 chỉ là tạm tính. Vì vậy, nội dung kháng cáo này là không có cơ sở, nên không được chấp nhận.

[3.2] Về kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn về công nợ giữa các bên:

Xét, căn cứ sự xác nhận của người đại diện hợp pháp của các đương sự tại các Biên bản hòa giải ngày 09/11/2020, 24/3/2021, 14/4/2021 và các văn bản ý kiến trong quá trình giải quyết vụ án, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định, giữa nguyên đơn (bên bán) và bị đơn (bên mua) có giao dịch mua bán đá granite. Thỏa thuận mua bán hàng hoá giữa nguyên đơn và bị đơn thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo quy định tại Điều 117 Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 24 Luật Thương mại năm 2005 nên hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Giá trị hàng hoá các bên chưa giải quyết là 533.691.000 đồng, trong đó hai bên đã xác nhận công nợ số tiền là 157.411.910 đồng, còn số tiền 376.279.200 đồng thì chưa được xác nhận công nợ, tương đương với số hàng mà bị đơn chưa sử dụng hiện đang để ở kho của bị đơn vì cho rằng không đạt quy cách, chất lượng như thỏa thuận. Hai bên đã tiến hành thương lượng để giải quyết số hàng hóa này nhưng không thống nhất được phương án giải quyết.

Tại Biên bản xem xét hiện trạng ngày 01/6/2022 của Tòa án cấp sơ thẩm đã ghi nhận như sau: Tại thời điểm xem xét, thẩm định, tại địa chỉ số B Quốc lộ B, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh có tồn tại một số kiện đá màu xám đen, trong đó kiện đá có quy cách có dán miếng giấy đề chữ TRANG, kiện đá không có quy cách không có dán chữ, kiện gỗ để chứa đá bằng gỗ đã gãy, mục nên có ràng lại bằng dây. Ý kiến của đương sự: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Hà Văn Q trình bày: Theo chỉ định của người đại diện theo pháp luật của bị đơn ông Phạm Hữu V2 về khu vực chứa hàng của Công ty T1 là một phần trong kho hàng của Công ty Đ1. Nguyên đơn nhận thấy không đủ cơ sở để xác định số hàng trên là của Công ty T1. Người đại diện theo pháp luật của bị đơn ông Phạm Hữu V2 trình bày: Nếu nguyên đơn nhận thấy không đủ cơ sở để xác định số hàng hóa trên là của Công ty T1 thì phải chứng minh.

Xét, căn cứ Biên bản xem xét hiện trạng ngày 01/6/2022, ý kiến trình bày của hai bên trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm, phía bị đơn xác định là hàng hóa của Công ty T1 được để chung với các đơn vị cung cấp khác trong kho của bị đơn, có cơ sở xác định, bị đơn không chứng minh được số hàng hóa là “một số kiện đá màu xám đen, trong đó kiện đá có quy cách có dán miếng giấy đề chữ TRANG, kiện đá không có quy cách không có dán chữ, kiện gỗ để chứa đá bằng gỗ đã gãy, mục nên có ràng lại bằng dây” đang để tại kho của bị đơn là của nguyên đơn đã giao và nguyên đơn cũng không thừa nhận. Bị đơn nhận hàng nhưng không tiến hành các biện pháp cần thiết để đánh dấu, phân loại hàng hóa của các đơn vị cung cấp khác nhau dẫn đến việc không thể buộc nguyên đơn nhận lại số hàng hóa này là lỗi của bị đơn trong việc quản lý. Theo đó, bị đơn có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn giá trị số hàng hóa này mà hai bên đã xác nhận là 376.279.200 đồng.

Xét, bị đơn có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn vào thời điểm giao hàng theo thỏa thuận của các bên, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 55 Luật Thương mại năm 2005. Bị đơn chậm thanh toán nên nguyên đơn có quyền yêu cầu bị đơn trả tiền lãi trên số tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 306 Luật Thương mại năm 2005. Tuy nhiên, nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn thanh toán tiền lãi trên số tiền chậm trả từ ngày 01/9/2019 đến ngày 27/9/2023, với lãi suất 8%/năm, là tự nguyện, có lợi cho bị đơn, phù hợp với quy định của pháp luật, nên được chấp nhận.

Vì vậy, nguyên đơn kháng cáo, yêu cầu buộc bị đơn thanh toán số tiền nợ gốc là 533.691.000 đồng và tiền lãi do chậm thanh toán từ ngày 01/9/2019 đến ngày 27/9/2023 là 173.864.000 đồng, là có cơ sở, nên được chấp nhận. Bị đơn kháng cáo, yêu cầu Tòa án giải quyết, chỉ buộc bị đơn thanh toán số tiền nợ gốc là 11.272.000 đồng và tiền lãi do chậm thanh toán là 827.643 đồng, là không có cơ sở, nên không được chấp nhận.

[3.3] Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Công ty T1; không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bị đơn Công ty Đ1, cần sửa một phần quyết định của bản án sơ thẩm.

[3.4] Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không phù hợp với nhận định nêu trên, nên không được chấp nhận.

[4] Những quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không giải quyết,

[5] Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án do Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm nên người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; Tòa án cấp phúc thẩm xác định lại nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • Áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Công ty TNHH T1; không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn Công ty TNHH Đ1.

Sửa một phần bản án sơ thẩm như sau:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH T1.
    1. Buộc Công ty TNHH Đ1 phải thanh toán cho Công ty TNHH T1 số tiền nợ gốc là 533.691.000 đồng và tiền lãi do chậm thanh toán từ ngày 01/9/2019 đến ngày 27/9/2023 là 173.864.000 đồng. Tổng cộng là 707.555.000 (Bảy trăm lẻ bảy triệu năm trăm năm mươi lăm ngàn) đồng.
    2. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả.
  2. Những quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị, như sau:
    1. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ1 thanh toán số tiền mua hàng còn thiếu là 405.000.000 đồng cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn T1.
    2. Về chi phí xem xét hiện trạng là 2.000.000 (Hai triệu) đồng do phía nguyên đơn đã nộp. Nguyên đơn tự nguyện chịu nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
  3. Về án phí:
    1. Công ty TNHH Đ1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 32.302.200 (Ba mươi hai triệu ba trăm lẻ hai ngàn hai trăm) đồng.
    2. Hoàn trả cho Công ty TNHH Đ1 số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 21.206.805 (Hai mươi mốt triệu hai trăm lẻ sáu ngàn tám trăm lẻ năm) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0068286 ngày 09/9/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
    3. Hoàn trả cho Công ty TNHH T1 số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 2.000.000 (Hai triệu) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0023783 ngày 11/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
    4. Hoàn trả cho Công ty TNHH Đ1 số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 2.000.000 (Hai triệu) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0023839 ngày 16/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
  4. Thi hành án tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
  5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - TAND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - Cục THADS TP.HCM;
  • - TAND Q. Tân Bình;
  • - Chi cục THADS Q. Tân Bình;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đào Quốc Thịnh

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 77/2024/KDTM-PT ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

  • Số bản án: 77/2024/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sửa một phần bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger