Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2024/HS - ST

Ngày: 16 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Như Quỳnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Xuân Giới

Ông Trần Văn Nam

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Lan Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều tham gia phiên tòa:

Bà Lương Thị Thuỷ - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 71/2024/TLST - HS ngày 28 tháng 8 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2024/QĐXXST- HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vũ Đình T; sinh ngày 09/3/1972, tại thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: thôn Đ, xã B, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lái xe ô tô; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Đức H và bà Nguyễn Thị C; vợ: Vũ Thị L (đã ly hôn); con: có 04 con, lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: không; bị cáo hiện tại ngoại, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1995; nơi cư trú: tổ F, khu M, phường X, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt

Người đại diện theo uỷ quyền của chị Nguyễn Thị P, đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: anh Nguyễn Thành T1, sinh năm 1987; nơi cư trú: tổ F, khu M, phường X, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; có mặt

- Người làm chứng: ông Nguyễn Ngọc T2, ông Nguyễn Công K, anh Nguyễn Duy H1; đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 25/5/2024, Vũ Đình T (có giấy phép lái xe ô tô theo quy định) điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu DONGFENG, biển kiểm soát 23C 032.61, đi từ Cảng bến thuỷ nội địa của Công ty T4 (là đường nhánh) ra khu vực ngã 3 giao nhau với đường liên khu (là đường chính) thuộc khu M, phường X, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Khi T điều khiển xe ô tô đi đến mép ngã ba (giáp phần đường hướng từ xã B đi Ủy ban nhân dân phường X), lúc này trời mưa, tầm nhìn bị hạn chế do hai bên lề đường giáp mép ngã ba có trồng một số cây bóng mát. Cùng lúc này, xe mô tô nhãn hiệu CPI, biển kiểm soát 14F8 - 8719, do chị Nguyễn Thị P điều khiển đi trên phần đường bên phải đường liên khu, theo hướng từ xã B về Ủy ban nhân dân phường X, thị xã Đ đến khu vực ngã 3. Do T điều khiển xe ô tô không giảm tốc độ, không nhường đường cho phương tiện đang di chuyển trên đường liên khu, nên xe ô tô do T điều khiển đi vào ngã 3, chuyển hướng rẽ trái đã chắn hết phần đường xe mô tô do chị P điều khiển, khiến phần đầu xe mô tô của chị P đâm va vào giá bảo vệ thân xe bên trái xe ô tô do T điều khiển, làm P bị ngã cùng xe mô tô và bị dàn lốp sau bên trái xe ô tô chèn lên, kéo rê chị P và xe mô tô sang phần đường ngược chiều. Thứ phanh, dừng xe rồi xuống kiểm tra, thì thấy dàn lốp sau bên trái xe ô tô đè lên xe mô tô và chân trái của chị P nên đã lên điều khiển xe ô tô tiến lên khoảng hơn 01 mét, rồi cùng mọi người kéo chị P ra đưa đi cấp cứu.

Tại bản Kết luận giám định thương tích số 554/KLTTCT-TTPY ngày 26/6/2024, của Trung tâm pháp y Sở Y kết luận thương tích của chị Nguyễn Thị P:

  • Chấn thương bụng kín, vỡ lách độ III (AAST) đã được cắt bỏ lá lách; tổn thương đụng dập chảy máu đuôi tụy, đã được khâu cầm máu; sẹo vết mổ đường trắng giữa trên và dưới rốn kích thước trung bình; dẫn lưu hạ sườn trái kích thước nhỏ; gãy ngành chậu mu và ngồi mu hai bên; gãy xương cánh chậu trái).
  • Chấn thương gối - cẳng chân trái (đứt dây chằng chéo trước bên trái hiện tại tầm vận động của khớp từ 0 độ đến 125 độ; gãy mắt cá ngoài chân trái. Sẹo vết thương mặt trước gối trái kích thước trung bình; mặt trong gối trái kích thước trung bình; 1/3 dưới mặt trong cẳng chân trái kích thước lớn; mặt trong bàn chân trái kích thước lớn).
  • Sẹo vết thương gối phải kích thước trung bình, mu chân phải kích thước trung bình. Vết biến đổi rối loạn sắc tố da 1/3 dưới mặt trước đùi trái, mặt trước gối trái, 1/3 giữa mặt ngoài cẳng chân trái, mắt cá ngoài chân trái.

Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 82% (tám mươi hai phần trăm).

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 44/KL-HĐĐGTS ngày 1765/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Đ, kết luận: xe mô tô biển số 14F8 - 8719 bị hư hỏng, thiệt hại trị giá 10.140.000 đồng.

Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: hiện trường không còn nguyên vẹn do quá trình cấp cứu nạn nhân. Nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông là khu vực ngã ba giao nhau giữa đường đi vào Cảng bến thuỷ nội địa của Công ty T4 (là đường nhánh) với đường liên khu (là đường chính) thuộc khu M, phường X, thị xã Đ. Ở hai bên lề giáp mép ngã ba có trồng một số cây cao khoảng 04m, rộng khoảng 03m. Mặt đường nơi xảy ra tai nạn bằng phẳng, thẳng. T3 đường có vạch sơn vàng đứt đoạn chia đường làm hai phần đường ngược chiều nhau, mỗi phần đường rộng 3,4m. Theo hướng đi từ Ủy ban nhân dân phường X đi xã B, có vết cày xước đường dài 6,5m (điểm đầu vết nằm trên phần đường hướng đi của xe mô tô, cách tâm đường 1,3m, cách mép ngã ba, đo vuông góc là 2,3m; điểm cuối vết nằm trên phần đường ngược chiều tiếp giáp với giá để chân sau bên phải của xe mô tô của chị P, cách tâm đường 1,6m). Các mảnh nhựa, dép, máu nằm trên phần đường đi xã B. Xe ô tô dừng đỗ trên sát mép đường ở phần đường hướng đi xã B (bút lục số: từ 24 đến 26 và từ 54 đến 56).

Kết quả khám các phương tiện, thể hiện:

  • Xe ô tô biển số 23C - 032.61 có dấu vết trượt chùi mất bụi, trượt xước sơn mặt ngoài và cạnh dưới giá bảo vệ thân xe bên trái, kích thước (12x3)cm, hướng từ trước về sau, ngoài vào trong. T3 vết cách cạnh cuối giá bảo vệ là 118cm, cách mặt đất là 51cm (bút lục số: 92).
  • Xe mô tô biển số 14F8-8719, bị bung bật, vỡ, mất, hư hỏng toàn bộ đầu xe hướng từ dưới lên trên, từ ngoài vào trong. Thủng bục, rách da, trượt xước toàn bộ da bọc yếm yên xe. Cong vênh kim loại giá bảo vệ, vỡ hỏng toàn bộ cụm đèn hậu đèn xi nhan phía sau hai bên. Bẹp méo, cong vênh biến dạng toàn bộ nhựa chắn bùn bánh sau và biển số từ hai bên ép vào trong. Trên xe có dính nhiều bùn đất (bút lục số: 70, 71).

Toàn bộ diễn biến vụ tai nạn giao thông được ghi lại bởi Camera an ninh của Ủy ban nhân dân phường X, thị xã Đ.

Quá trình điều tra, Vũ Đình T khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên và đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho người bị hại là chị Nguyễn Thị P số tiền 85.000.000 đồng. Người bị hại có đơn đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho T.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Vũ Đình T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Ngoài ra, bị cáo Vũ Đình T khai: khoảng 08 giờ 45 phút ngày 25/5/2024 bị cáo một mình điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 23C – 032.61, trên thùng xe không chở hàng hoá gì xuất phát từ Cảng Công ty T4 mục đích đi lấy sỉ ở thôn X, xã B, thị xã Đ. Khoảng 15 phút sau, bị cáo điều khiển xe đi đến khu vực bê tông Đ, tại đoạn đường này, mặt đường được trải bê tông xi măng, tương đối bằng phẳng, không có vạch sơn phân chia phần đường, làn đường. Thời điểm này, trời mưa nhỏ, mặt đường ẩm ướt, bị cáo do không làm chủ tốc độ, không nhường đường cho phương tiện đang đi ở đường chính, đã gây tai nạn với xe mô tô biển kiểm soát 14F8-8719, do chị Nguyễn Thị P điều khiển đi trên đường chính, làm chị P bị thương. Sau khi gây tai nạn cho chị P, bị cáo đã cùng người dân và gia đình đưa chị P đi cấp cứu, bị cáo bồi thường cho chị P số tiền 85.000.000 đồng. Chị P không yêu cầu gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người đại diện theo uỷ quyền của chị P, đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Thành T1 có lời khai: anh là chồng của bị hại chị Nguyễn Thị P. Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 14F8 - 8719 chị P điều khiển ngày 25/5/2024 là xe của anh mua của một người họ hàng, có giấy tờ hợp lệ. Sau khi xảy ra tai nạn, anh T thường xuyên thăm hỏi, động viên sức khoẻ của vợ anh, bồi thường thỏa đáng cho gia đình về sức khoẻ và tài sản. Đến nay, gia đình anh không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì tai nạn xảy ra không ai mong muốn.

Tại Cáo trạng số: 1699/CT- VKSĐT ngày 26-8-2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều truy tố bị cáo Vũ Đình T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo bản Cáo trạng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

  • Điểm b khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Đình T từ 12 - 15 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời gian thử thách từ 24 - 30 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 16 tháng 9 năm 2024).
  • Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: trả lại cho bị cáo Vũ Đình T 01 (một) giấy phép lái xe.
  • + Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo
  • + Về trách nhiệm dân sự: bị cáo đã bồi thường đầy đủ cho bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nên không đề cập giải quyết.

Lưu kèm trong hồ sơ vụ án đĩa DVD.

Bị cáo, đại diện theo uỷ quyền của bị hại đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra Công an thị xã Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, Kiểm sát viên thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về việc định tội đối với bị cáo:

Lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, với biên bản khám nghiệm hiện trường do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Đ lập hồi 09 giờ 30 phút ngày 25/5/2024, sơ đồ hiện trường, bản ảnh khám nghiệm hiện trường, bản ảnh khám phương tiện và bản ảnh trích xuất hình ảnh camera an ninh, với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: khoảng 09 giờ ngày 25/5/2024, tại khu vực ngã ba thuộc khu M, phường X, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, Vũ Đình T (có giấy phép lái xe ô tô theo quy định) điều khiển xe ô tô tải, biển số 23C - 032.61, đi từ đường nhánh ra đường chính, chuyển hướng rẽ trái, do không làm chủ tốc độ, không nhường đường cho phương tiện đang đi ở đường chính, đã gây tai nạn với xe mô tô biển kiểm soát 14F8-8719, do chị Nguyễn Thị P điều khiển đi trên đường chính, làm chị P bị thương tích tổn hại 82% sức khỏe, xe mô tô biển kiểm soát 14F8-8719 bị hư hỏng, thiệt hại trị giá 10.140.000đ (mười triệu một trăm bốn mươi nghìn đồng).

Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều truy tố và kết luận về hành vi phạm tội đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, làm tổn hại đến sức khỏe của người khác, gây hoang mang, lo lắng cho mọi người mỗi khi phải tham gia giao thông trên đường. Bị cáo là người đã trưởng thành, nghề nghiệp chính là lái xe, bị cáo nhận thức rõ về phương tiện mình điều khiển là nguồn nguy hiểm cao độ, khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ bắt buộc phải tuân theo quy định của pháp luật về an toàn giao thông. Nhưng chỉ vì ý thức chấp hành pháp luật kém, coi thường luật giao thông đường bộ, bị cáo đã phạm tội. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình.

[3] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: bị cáo không có tiền án, tiền sự

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đã bồi thường thiệt hại cho bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và được bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra, bị cáo có bố là ông Vũ Đức H và mẹ là Nguyễn Thị C là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng huân, huy chương kháng chiến nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Từ những đánh giá, phân tích nêu trên, căn cứ vào nhân thân, hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo cũng như những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục, cải tạo để giúp bị cáo sửa chữa sai lầm, trở thành công dân có ích cho xã hội.

[4] Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Xét thấy, bị cáo là lái xe tư nhân, không có thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

[6] Những tình tiết khác trong vụ án:

Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 14F8 - 8719, là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Thành T1 (chồng của chị P); chiếc xe ô tô biển kiểm soát 23C- 032.61 là tài sản hợp pháp của bị cáo Vũ Đình T, Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cho anh T1 và trả lại xe ô tô cho bị cáo T.

Ngoài ra trong quá trình điều tra còn thu giữ của bị cáo 01 (một) giấy phép lái xe số No: 220970000875 do Sở giao thông vận tải tỉnh Y cấp ngày 16/10/2019. Do không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo.

Đối với lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh áp dụng đối với bị cáo: do bị cáo không bị áp dụng hình phạt tù nên theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự, cần thiết phải huỷ bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh đang áp dụng với bị cáo.

Lưu kèm trong hồ sơ vụ án 02 đĩa DVD (01 đĩa hỏi cung bị cáo Vũ Đình T; 01 đĩa lưu clip được trích xuất từ Camera an ninh của Ủy ban nhân dân phường X, thị xã Đ).

[7] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: bị cáo, người đại diện theo uỷ quyền của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh và hình phạt:

    Căn cứ: điểm b khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố bị cáo Vũ Đình T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

    Xử phạt bị cáo Vũ Đình T 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 16 tháng 9 năm 2024).

    Giao bị cáo Vũ Đình T cho Ủy ban nhân dân xã B, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã B, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

    Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    - Áp dụng khoản 1, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: trả lại cho bị cáo Vũ Đình T 01 (một) giấy phép lái xe số No: 220970000875 do Sở giao thông vận tải tỉnh Y cấp ngày 16/10/2019.

  2. Về xử lý biện pháp ngăn chặn: căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn theo “Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú” số 286/LC - ĐTTH ngày 02/7/2024 và “ Quyết định tạm hoãn xuất cảnh” số 89/QĐ - ĐTTH ngày 02/7/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Đ đối với bị cáo Vũ Đình T kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

  3. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

    Bị cáo Vũ Đình T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo, người đại diện theo uỷ quyền của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người đại diện theo uỷ quyền của bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Cơ quan điều tra Công an thị xã Đông Triều;
  • - Cơ quan THAHS Công an thị xã Đông Triều;
  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Đông Triều;
  • - Viện kiểm sát ND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Chi cục THA DS Thị xã Đông Triều;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - Lưu hồ sơ, VP./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Trần Thị Như Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 77/2024/HS - ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 77/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Đình Th
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger