|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 77/2024/HS-ST
Ngày 16-5-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Song Hải
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Bích Lý
Ông Nguyễn Văn Hạnh
Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Thúy An - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê
Chân, thành phố Hải Phòng
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Ông
Bùi Tuấn Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 52/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 354/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Mai Thanh B, sinh ngày 10 tháng 8 năm 1973 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Số B T, phường N, quận L, Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Văn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị Q; tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ ngày 19/12/2023; tạm giam ngày 26/12/2023; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 20 giờ 00 phút ngày 18/12/2023, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận L phối hợp với Công an phường N kiểm tra hành chính nhà số B T, phường N, quận L, Hải Phòng. Quá trình kiểm tra, trong nhà có 02 nam giới là Mai Thanh B (chủ nhà) và Đỗ Mạnh H1, sinh năm 1986; trú quán: số H N, phường M, quận N, Hải Phòng có biểu hiện đã sử dụng trái phép chất ma túy. Tại đây, lực lượng Công an thu giữ 01 túi nilon kích thước 04x06cm có mép viền màu cam chứa chất tinh thể màu trắng nghi ma túy (KT2), 01 túi nilon kích thước 05x07cm có mép viền màu đỏ chứa chất tinh thể màu trắng nghi ma túy tổng hợp (KT1), 01 bộ dụng cụ để sử dụng ma túy tổng hợp (KT3). Tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu cho kết quả Mai Thanh B và Đỗ Mạnh H1 dương tính với chất Methamphetamine. Các đối tượng trên được dẫn giải cùng vật chứng về trụ sở Công an phường làm việc.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Mai Thanh B, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L phát hiện, thu giữ 02 điện thoại nhãn hiệu Samsung đã qua sử dụng và 01 bật lửa..
Tại bản kết luận giám định số 1043/KL-KTHS ngày 21/12/2023 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: chất tinh thể màu trắng (KT1) thu giữ của Mai Thanh B là ma túy, có khối lượng 0,22 gam, là loại Methamphetamine; tinh thể màu nâu đen bên trong tẩu thủy tinh thu giữ là ma túy, có khối lượng 0,02 gam, là loại Methamphetamine (KT3); chất tinh thể màu trắng (KT2) thu giữ của Mai Thanh B là đường (Sucrose) có khối lượng 6,33 gam.
Tại bản kết luận giám định số 719/KL-KTHS ngày 16/3/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận dấu vết đường vân trên coóng thủy tinh thu giữ tại nhà B: các dấu vết đường vân phát hiện được mờ nhòe, không rõ đặc điểm chung, ít các đặc điểm riêng, không đủ yếu tố giám định..
Tại Cơ quan điều tra, Mai Thanh B khai nhận: Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 17/12/2023, Mai Thanh B đến khu vực chợ Đ, quận L mua đồ ăn, trên đường đi, B nhặt được 01 túi nilon có mép viền màu cam chứa chất tinh thể màu trắng, B nghĩ là ma túy tổng hợp nên nhặt về và sử dụng nhưng xác định không phải ma túy nên B để túi nilon này trên mặt bàn tầng 1. Khoảng 15 giờ ngày 18/12/2023, B đi một mình vào trong ngõ C T mua của một nữ giới không quen biết 01 túi nilon ma túy “đá” có mép viền màu đỏ với giá 400.000 đồng để sử dụng cho bản thân. Sau đó, B mang về nhà và lấy một ít ma túy trong túi nilon vừa mua cho vào coóng thủy tinh dùng bật lửa sử dụng một mình, số ma túy còn lại trong túi nilon, B để cạnh túi nilon B nhặt hôm trước. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, B gọi điện cho Đỗ Mạnh H1 đến nhà B để sửa máy sạc điện. H1 đến nhà B được một lúc thì lực lượng Công an vào nhà kiểm tra thu giữ số ma túy.
Đỗ Mạnh H1 khai nhận: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 18/12/2023, Mai Thanh B gọi điện cho H1 nhờ đến nhà sửa chữa đồ điện tử. Khi H1 đang xem một số đồ vật trong nhà B thì lực lượng Công an vào kiểm tra và thu giữ trên mặt bàn kính đặt tại tầng 1 nhà B 01 túi nilon mép viền cam và 01 túi nilon mép viền đỏ đều chứa chất tinh thể màu trắng và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy “đá”. Trước đó khoảng 02 ngày, H1 đã sử dụng ma túy “đá” một mình khi đi làm ở khu vực chân cầu L. H1 không sử dụng ma túy tại nhà B.
Đối với nữ giới bán ma túy cho Mai Thanh B, do B không biết căn cước, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L có căn cứ để điều tra làm rõ.
Đối với Đỗ Mạnh H1, Công an quận L ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Tại bản Cáo trạng số 70/CT-VKSLC ngày 26/3/2024 Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố bị cáo Mai Thanh B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng, bị cáo tỏ ra ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Mai Thanh B mức án từ 18 đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong lượng ma túy, 01 phong bì niêm phong lượng tinh thể mẫu và vỏ bao gói còn lại sau giám định, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, 01 bật lửa.
Trả lại cho bị cáo 02 điện thoại nhãn hiệu Samsung đã qua sử dụng.
Về án phí: Bị phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, báo cáo bắt giữ của lực lượng công an, kết luận giám định, vật chứng thu giữ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Hồi 20 giờ 00 phút ngày 18/12/2023, tại nhà số B T, phường N, quận L, Hải Phòng, Mai Thanh B bị bắt quả tang khi đang cất giữ trái phép 0,24 gam ma túy là loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo thỏa mãn cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” vi phạm điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân quận L, thành phố Hải Phòng truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Tính chất của vụ án là nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Hiện nay, tệ nạn ma túy đang là hiểm họa lớn đối với toàn xã hội, gây tác hại xấu cho sức khỏe con người, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và là tác nhân làm phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội khác. Vì vậy cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và đặc điểm nhân thân của bị cáo.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6]Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo như đã phân tích ở trên Hội đồng xét xử thấy rằng tuy bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng với lượng ma túy mà bị cáo tàng trữ cần xử phạt bị cáo trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa mới đủ tác dụng cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[8] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì “người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng”. Hội đồng xét xử xét bị cáo không có công việc thu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[9] Về xử lý vật chứng: Hiện Chi cục thi hành án dân sự quận L đang quản lý 01 phong bì niêm phong lượng ma túy, 01 phong bì niêm phong lượng tinh thể mẫu và vỏ bao gói còn lại sau giám định, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, 01 bật lửa. Xét thấy, số vật chứng này liên quan đến việc phạm tội, là vật cấm tàng trữ, cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng nên cần áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.
Đối với 02 điện thoại nhãn hiệu Samsung đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo thấy không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo.
[10] Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự ; Nghị quyết 326/2016/UBTVQHH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Mai Thanh B 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19 tháng 12 năm 2023.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong có số 1043MT/PC09 cùng vỏ bao bì còn lại sau giám định.
Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong cùng vỏ bao bì còn lại sau giám định có số 2146531.
Tịch thu tiêu hủy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá và 01 bật lửa.
Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S9 màu tím có số IMEI 1: 352711092417431 và số IMEI 2 : 352712092417439 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu vàng không lên nguồn có số IMEI : 352469/07/959911/5.
(Theo biên bản giao nhận tài sản, vật chứng ngày 28/03/2024 giữa Công an quận L và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng).
Về án phí: Áp dụng Điều 135; điều 136; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Mai Thanh B có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Song Hải |
Nơi nhận:
- - Bị cáo; UBND nơi bị cáo cư trú;
- - VKSND thành phố;
- - VKSND quận Lê Chân;
- - Công an quận Lê Chân;
- - Phòng PV06; PC10;
- - THA hình sự;
- - Chi cục THADS quận Lê Chân;
- - Sở tư pháp;
- - Lưu: HS, VT.
Bản án số 77/2024/HS-ST ngày 16/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 77/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mai Thanh Bình tàng trữ trái phép chất ma túy
