Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THOẠI SƠN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: ..../2024/DS-ST

Ngày: 12/7/2024

V/v tranh chấp hợp đồng hụi (họ)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Xuyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Minh Quốc;

2. Ông Huỳnh Văn Tý.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Tiểu Ngọc – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lam Em - Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 85/2024/ TLST- DS ngày 04/4/2024 về việc "Tranh chấp Hợp đồng góp hụi (Họ)", theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2024/QĐXXST-DS ngày 31/5/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số: 72/2024/QÐST-DS ngày 21/6/2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị K (Út H), sinh năm 1977

Địa chỉ: Ấp P, xã T, huyện T, tỉnh An Giang. Số điện thoại: 0987.274.xxx

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Kiều O (Vợ C), sinh năm 1987

Địa chỉ: Ấp P, xã T, huyện T, tỉnh An Giang. Số điện thoại: 0832.333.xxx

(Nguyên đơn vắng mặt – có đơn xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai và lời khai quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Lê Thị K (Ú) trình bày:

Bà Lê Thị K (Út Hiển) có tham gia chơi hụi do bà Nguyễn Thị Kiều O (Vợ Cưng) làm chủ hụi 02 dây hụi, cụ thể: 01 dây hụi 2.000.000 đồng/tháng, khui ngày 10/5/2022 (âm lịch), mỗi tháng khui một lần, có 25 phần hụi, bà K chơi 02 chân và 01 dây hụi 1.000.000 đồng/tháng, áp ngày 15/7/2023 al, mỗi tháng khui một lần, có 21 phần hụi, bà K chơi 01 chân. Bà O có giao cho bà K sổ hụi có ghi danh sách hụi viên (tên trong sổ hụi của bà K là Út H), khi 02 dây hụi đều chưa mãn (dây 2.000.000 đồng/tháng bà K chầu được 18 lần hụi sống, dây 1.000.000 đồng/tháng bà K chầu được 03 lần hụi sống) thì đến ngày 22/9/2023 al bà O tuyên bố vỡ hụi và bỏ đi khỏi địa phương, một thời gian sau bà O quay về nhưng không đồng ý trả tiền hụi sống cho bà K dù bà K đã cố gắng liên hệ đòi nhiều lần.

Tại đơn khởi kiện bà K yêu cầu bà Nguyễn Thị Kiều O (Vợ C) phải có trách nhiệm trả cho bà K số tiền nợ hụi là 75.000.000 đồng, yêu cầu tính lãi từ ngày 22/9/2023 đến ngày xét xử xong vụ án. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án bà K xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể: bà K chỉ yêu cầu bà O trả cho bà K số tiền hụi còn nợ là 56.090.000 đồng – đây là số tiền bà O thừa nhận nợ trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, hình thức trả một lần và yêu cầu tính lãi theo quy định của pháp luật tính từ ngày 22/9/2023 al (ngày bà O tuyên bố vỡ hụi) đến ngày xét xử xong vụ án.

* Theo tờ tự khai (không đề ngày) của bị đơn bà Nguyễn Thị Kiều O (Vợ C) trình bày:

“...tôi tên: Nguyễn Thị Kiều O (sinh năm 1987), địa chỉ: ấp P, xã T, huyện T, tỉnh An Giang. Tôi có nợ tiền hụi của bà Lê Thị K, sinh năm 1977 với số tiền là 56.090.000 (năm mươi sáu triệu không trăm chín chục ngàn). Tôi xin trả trước 8.400.000 đồng (tám triệu bốn trăm ngàn đồng) phần còn lại trả dần một mùa 3 triệu..."

Tại phiên tòa: Nguyên đơn bà Lê Thị K (Ú) vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn bà Nguyễn Thị Kiều O (Vợ C) đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là tuân thủ đúng quy định pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 357, Điều 468 và Điều 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về hụi, họ, biêu, phường, tuyên xử: Đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả số tiền gốc là 18.910.000 đồng; Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc bà O trả cho bà K số tiền nợ gốc là 56.090.000 đồng và lãi suất theo quy định của pháp luật là 10%/năm tính từ ngày 22/9/2023 al đến ngày xét xử (12/7/2024). Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp hợp đồng hụi (họ), bị đơn có địa chỉ cư trú trên địa bàn huyện T, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn có thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Tại phiên tòa nguyên đơn bà Lê Thị K (Út Hiển) vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn bà Nguyễn Thị Kiều O (Vợ C) đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không lý do là từ bỏ quyền và không thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 và Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Do vậy, HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét yêu cầu rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Tại đơn khởi kiện bà K yêu cầu bà Nguyễn Thị Kiều O (Vợ C) phải có trách nhiệm trả cho bà số tiền nợ hụi là 75.000.000 đồng, yêu cầu tính lãi từ ngày 22/9/2023 đến ngày xét xử xong vụ án. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án bà K xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể: bà chỉ yêu cầu bà O trả cho bà số tiền hụi còn nợ là 56.090.000 đồng – đây là số tiền bà O thừa nhận nợ trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, hình thức trả một lần và yêu cầu tính lãi theo quy định của pháp luật tính từ ngày 22/9/2023 al (ngày bà O tuyên bố vỡ hụi) đến ngày xét xử.

Xét thấy, việc rút một phần yêu cầu khởi kiện trên của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, không trái quy định của pháp luật, đạo đức xã hội và có lợi cho bị đơn nên căn cứ Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả tiền số tiền nợ gốc là 18.910.000 đồng do nguyên đơn tự nguyện rút.

[2.2] Xét yêu cầu bị đơn trả tiền nợ gốc là 56.090.000 đồng của nguyên đơn:

Trong quá trình giải quyết vụ án, bà K đã cung cấp cho Tòa án 02 sổ ghi danh sách hụi viên trong đó có tên bà O “Vợ Cưng” là chủ hụi, bà K “Út Hiển” là hụi viên. Bên cạnh đó, dù vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nhưng bà O đều nhận văn bản tố tụng của Tòa án và có Tờ tự khai thể hiện việc bà O thừa nhận có nợ tiền hụi của bà K số tiền là 56.090.000 đồng và đồng ý trả nợ cho bà O theo hình thức trả dần nên theo khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì đây là việc không cần phải chứng minh. Từ đó, có cơ sở xác định giữa bà K và bà O có xác lập hợp đồng hụi (họ), loại hụi có lãi và hụi hưởng hoa hồng, bà O là chủ hụi, bà K là hụi viên; Hợp đồng hụi (họ) này của bà K và bà O, là giữa những người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự giao kết hợp đồng, xác lập trên cơ sở tự nguyện, nội dung không vi phạm điều cấm và không trái pháp luật; hình thức của hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật nên hợp đồng này là hợp pháp theo quy định tại Điều 3 và Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó, các bên phải thực hiện đúng nghĩa vụ của mình đã giao kết. Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn thừa nhận nợ và xin trả dần nhưng phía nguyên đơn không thống nhất cho trả dần nên yêu cầu xin trả dần này là không có căn cứ chấp nhận.

Xét thấy, bà O là chủ hụi sau khi thu tiền hụi của hụi viên đã tự ý tuyên bố bể hụi trốn tránh trách nhiệm của chủ hụi. Do đó, việc bà K khởi kiện yêu cầu bà O trả số tiền 56.090.000 đồng là phù hợp với quy định tại Điều 15 và Điều 18 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về hụi, họ, biêu, phường nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.3] Xét yêu cầu tính lãi của nguyên đơn:

Xét thấy bà O vi phạm nghĩa vụ trả nợ, tuy khi giao kết hợp đồng hụi bà K và bà O không có thỏa thuận về lãi suất phát sinh khi chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền nhưng theo quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 22 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về hụi, họ, biêu, phường thì lãi suất được xác định bằng 50%/năm mức lãi suất giới hạn tại thời điểm trả nợ là 20%/năm, tương đương với mức lãi suất là 10%/năm (0,83%/tháng); nguyên đơn yêu cầu tính lãi theo quy định của pháp luật từ ngày 22/9/2023 al, nhằm ngày 05/11/2023 (dương lịch) đến ngày xét xử (ngày 12/7/2024) là 08 tháng 07 ngày, số tiền lãi bà O phải trả cho bà K là 3.895.139 đồng (56.090.000 đồng x 0,83%/tháng x 8 tháng 07 ngày). Xét thấy yêu cầu tính lãi của bà K là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Như vậy, Tổng số tiền nợ hụi bà O phải trả cho bà K là 59.985.139 đồng (trong đó tiền nợ gốc là 56.090.000 đồng và tiền nợ lãi là 3.895.139 đồng).

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải nộp án phí theo quy định.

[4] Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị về giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định nêu trên của Tòa án.

[5] Các đương sự được kháng cáo bản án theo quy định của Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 70, Điều 72, khoản 2 Điều 92, Điều 144, 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 244 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 3, Điều 357, Điều 468 và Điều 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 15, Điều 18 và Điều 22 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về hụi, họ, biêu, phường.

Tuyên xử:

1/ Đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả số tiền nợ gốc 18.910.000 đồng (mười tám triệu, chín trăm mười ngàn đồng) do nguyên đơn tự nguyện rút.

2/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Kiều O (Vợ C) có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn bà Lê Thị K (Ú) tổng số tiền nợ hụi là 59.985.139 đồng (năm mươi chín triệu, chín trăm tám mươi lăm ngàn, một trăm ba mươi chín đồng), trong đó: tiền nợ gốc là 56.090.000 đồng và tiền nợ lãi là 3.895.139 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn bà Nguyễn Thị Kiều O (Vợ C) phải nộp 2.999.257 đồng (hai triệu, chín trăm chín mươi chín ngàn, hai trăm năm mươi bảy đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn bà Lê Thị K (Ú) không phải chịu án phí nên được nhận lại 1.875.000 đồng (một triệu, tám trăm bảy mươi lăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0013778 ngày 04 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Thoại Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Thoại Sơn;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Cẩm Xuyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số ..../2024/DS-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng hụi (họ)

  • Số bản án: ..../2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng hụi (họ)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hụi
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger