trending_up Gợi ý tra cứu
  • history Thời hạn nộp thuế doanh nghiệp năm 2026
  • search Nghị định xử phạt hành chính đất đai
  • search Mẫu hợp đồng đặt cọc mua bán đất chuẩn
  • search Bản án mẫu tranh chấp đất đai
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2024/HSST

Ngày: 12/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Hiền

Ông Phùng Văn Tầu

Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân

quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội tham

gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Đại - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân quận Hà Đông xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 40/2024/TLST-HS, ngày 11 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/QĐXXST- HS ngày 25 tháng 3 năm 2024 đối với các bị cáo:

  • - Vũ Văn T sinh năm 1982 tại Vĩnh Phúc; Hộ khẩu thường trú: Số F dãy B1, TTCT công trình bưu điện, tổ E, phường M, quận H, TP Hà Nội; nơi ở hiện tại: P214, CT2, Chung cư N, phường P, quận H, TP Hà Nội; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Vũ Văn L, sinh năm 1952; Con bà: Đỗ Thị T1, sinh năm 1959, cùng HKTT: tổ E, phường M, quận H, TP Hà Nội, vợ: Phạm Thị H, sinh năm 1996, HKTT: tổ E, phường M, quận H, TP Hà Nội, có hai con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2017.
  • Tiền án, tiền sự: Không.
  • Nhân thân:
    • -Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 85/QĐXP ngày 11/8/2009, Công an phường M, quận H, TP Hà Nội xử phạt Vũ Văn T 150.000 đồng hành vi trộm cắp tài sản.
    • -Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính ngày 20/4/2007, Công an phường P, quận H, TP Hà Nội xử phạt Vũ Văn T 350.000 đồng hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tạm giữ từ ngày 18/12/2023 đến ngày 24/12/2023, Tạm giam từ ngày 24/12/2023 đến nay. Hiện Bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H.

(Có mặt tại phiên tòa).

  • - Trần Văn K sinh năm 1989 tại Hà Nội; Hộ khẩu thường trú: thôn C, xã T, huyện B, TP Hà Nội; nơi ở hiện tại: thôn C, xã T, huyện B, TP Hà Nội; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: tự do; Con ông: Trần Văn H1 (đã chết); Con bà: Trần Thị S, sinh năm 1962, HKTT: xã T, huyện B, TP Hà Nội.
  • Tiền án, tiền sự: Không.
  • -Tạm giữ từ ngày 18/12/2023 đến ngày 24/12/2023, Tạm giam từ ngày 24/12/2023 đến nay. Hiện Bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H.

(Có mặt tại phiên tòa).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Phạm Thị H, sinh năm 1996, nơi thường trú: tổ E, phường M, quận H, TP Hà Nội, hiện ở: P214, CT2, Chung cư N, phường P, quận H, TP Hà Nội.

(Vắng mặt và có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 18/12/2023 tại khu vực vỉa hè tiếp giáp chung cư C N, phường P, quận H, TP Hà Nội, tổ công tác Công an phường H, quận H phát hiện Trần Văn K điều khiển xe máy đèo Vũ Văn T có biểu hiện nghi vấn phạm tội liên quan đến ma túy. Tổ công tác công an phường H đã kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, thu giữ tại lòng bàn trái của Vũ Văn T 03 (ba) gói giấy bạc, bên ngoài bọc ni lông màu xanh có chứa chất ma túy.

Vật chứng thu giữ:

  • -03 (ba) gói giấy bạc, bên ngoài bọc nilong màu xanh có kích thước khoảng 01x1,5cm, bên trong tất cả các gói giấy đều chứa chất bột màu trắng.
  • -01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A12 màu trắng, lắp sim số 0989491681 đã qua sử dụng. Thu giữ của Vũ Văn T
  • -01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A16 màu xanh, lắp sim số 0397039824 đã qua sử dụng. Thu giữ của Trần Văn K.
  • -01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu sơn V- Đen-Bạc, biển kiểm soát 29V1-890.46, số máy JA39E24981530, số khung RLHJA3923NY000882.

Tài liệu có trong hồ sơ xác định hành vi phạm tội của bị cáo Vũ Văn T và Trần Văn K như sau:

-Tại Cơ quan điều tra, Vũ Văn T khai: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 18/12/2023, Vũ Văn T đang ở nhà một mình tại căn hộ P chung cư CT2, N, phường P, quận H thì có Trần Văn K đến nhà. K nói: “anh em đi lấy cái về chơi”, T hiểu ý của K là đi mua ma túy H2 về sử dụng, T đồng ý và nói “anh không có tiền”, K trả lời “em có sáu trăm, anh em mình đi”. Sau đó, K điều khiển xe máy biển kiểm soát 29V1-890.46 chở T, trên đường đi, K đưa cho T 600.000đồng. T bảo K điều khiển xe đến khu vực đường tàu thuộc phường K, quận H. Khi đến khu vực chung cư T K, T bảo K dừng xe lại chờ T, T xuống xe, đi bộ ra phía đường tàu. Tại đây, T gặp một nam giới không quen biết, nhìn giống người nghiện, T hỏi “anh ơi có trắng không?” (ý của T hỏi có ma túy H2 không?), người này nói “có, mua bao nhiêu?”, T nói: “lấy cho em sáu trăm” rồi đưa 600.000 đồng (là số tiền K đưa cho T) cho người nam giới này, người nam giới đưa cho T 03 (ba) gói giấy màu bạc bên ngoài bọc ni lông màu xanh, bên trong chứa ma túy, sau đó người nam giới đi đâu T không rõ, T cầm số ma túy vừa mua được ở lòng bàn tay trái, đi bộ ra chỗ K đang dừng xe, T nói “mua được rồi” (ý của T là đã mua được ma túy). T bảo K điều khiển xe máy về khu vực chung cư C N, phường P, quận H để tìm nơi sử dụng ma túy. Khi đi đến khu vực vỉa hè tiếp giáp chung cư C N, phường P, quận H, T và K bị lực lượng công an dừng xe kiểm tra, thu giữ tại lòng bàn tay trái của T 03 (ba) gói ma túy Heroin. Lực lượng công an tiến hành lập biên bản rồi đưa T và K về trụ sở để điều tra làm rõ.

Vũ Văn T khai Trần Văn K là người trực tiếp bỏ ra 600.000 đồng đưa cho T để mua ma túy cho cả hai sử dụng, Vũ Văn T không góp tiền mua ma túy để sử dụng.

Trần Văn K khai:

Khoảng 12 giờ, Trần Văn K điều khiển xe máy biển kiểm soát 29V1-890.46 của K, đi từ T, T, Hà Nội đến chung cư C, phường P, quận H để gặp Vũ Văn T (là người quen biết ngoài xã hội). Khi đến nhà T, K nói: “anh em mình đi lấy cái về chơi” (ý của K là rủ T đi mua ma túy về cùng sử dụng). T hiểu ý và nói “nhưng anh không có tiền”. K nói “em có sáu trăm đây rồi, anh em mình đi”. T đồng ý. Sau đó K điều khiển xe máy biển kiểm soát 29V1-890.46 của K chở T ngồi phía sau. Trên đường đi K đưa cho T 600.000 đồng, T cầm tiền và bảo K chở xuống khu vực đường tàu thuộc phường K, H để mua ma túy. Khi đến khu vực chung cư A K.T bảo K dừng xe chờ T. T đi khoảng 10 phút thì quay lại và nói: “mua được rồi” (ý của T là đã mua được ma túy). Sau đó, K điều khiển xe máy chở T về khu vực chung cư C, phường P, quận H để tìm nơi sử dụng ma túy. Khi đi đến khu vực vỉa hè tiếp giáp chung cư C N, phường P, quận H, T và K bị lực lượng công an dừng xe kiểm tra, thu giữ tại lòng bàn tay trái của T 03 (ba) gói ma túy Heroin. Lực lượng công an tiến hành lập biên bản rồi đưa K à T về trụ sở để điều tra làm rõ.

Trần Văn K khai: K là người trực tiếp bỏ ra 600.000 đồng đưa cho T để mua ma túy cho cả hai sử dụng, Vũ Văn T không góp tiền mua ma túy để sử dụng.

Về nguồn gốc ma túy thu giữ: Vũ Văn T khai mua của một người nam giới không quen biết (không biết họ tên, nhân thân, lý lịch) tại khu vực đường tàu, phường K, quận H, TP .. Cơ quan điều tra chưa có cơ sở để điều tra làm rõ, do đó, chưa đề cập xử lý trong vụ án này.

Tại bản Kết luận giám định số 8410/KL-KTHS ngày 25/12/2023 của Phòng K2 - Công an thành phố H kết luận:

  • -Chất bột màu trắng bên trong 03 gói giấy màu bạc (bên ngoài đều bọc ni lông màu xanh) đều là ma túy loại Heroin, tổng khối lượng: 0,249gam.

Tại Cáo trạng số 38/CT-VKS-HĐ ngày 11/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội đã truy tố Vũ Văn T và Trần Văn K theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Vũ Văn T và Trần Văn K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố, không kêu oan, lời nói sau cùng các bị cáo xin được Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo có cơ hội cải tạo, sớm trở về với gia đình để làm lại cuộc đời.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tại phiên tòa: giữ nguyên quan điểm truy tố theo bản cáo trạng số 38/CT-VKS-HĐ ngày 11/03/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, lời khai nhận tội của bị cáo Vũ Văn T, Trần Văn K, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với hai bị cáo Vũ Văn T và Trần Văn K: áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Văn K.

  • - Xử phạt Vũ Văn T: 18 tháng tù đến 21 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có công việc ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
  • Xử phạt Trần Văn K: 15 tháng tù đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • -Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có công việc ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

3.Về Xử lý vật chứng: Đề nghị

  • - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì C tại các mép dán có chữ ký của các đối tượng Trần Văn K, Vũ Văn T, Cán bộ Công an phường H: Trần Tuấn N, giám định viên Phạm Trần N1.
  • - Tịch thu 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu sơn V- Đen-Bạc, biển kiểm soát 29V1-890.46, số máy JA39E24981530, số khung RLHJA3923NY000882.
  • -Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A12 màu trắng, lắp sim số 0989491681 đã qua sử dụng cho chị Phạm Thị H.
  • -Trả lại 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A16 màu xanh, lắp sim số 0397039824 đã qua sử dụng cho bị cáo Trần Văn K.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Hành vi phạm tội và tội danh:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Vũ Văn T và Trần Văn K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp tại cơ quan điều tra, biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, phù hợp kết quả giám định vật chứng của phòng K2 công an thành phố H và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Đầy đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ ngày 18/12/2023 tại khu vực vỉa hè tiếp giáp chung cư C N, phường P, quận H, TP Hà Nội, Vũ Văn T và Trần Văn K đã có hành vi cất giấu 03 gói ma túy loại Heroin khối lượng 0,249 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Công an phường H phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng. Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo hiểu rõ tác hại của việc sử dụng trái phép các chất ma túy và nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy và xử phạt nghiêm khắc người nào có hành vi phạm tội. Hành vi của các bị cáo không những gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà còn là nguyên nhân gây lan truyền tệ nạn nghiện ngập ma tuý, làm huỷ hoại nhân cách, sức khỏe người sử dụng, huỷ hoại hạnh phúc gia đình và có nguy cơ tiềm ẩn các loại tội phạm khác. Do đó, cần thiết phải khởi tố, truy tố và đưa ra xét xử các bị cáo và áp dụng hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội của các bị cáo mới có tác dụng đấu tranh, phòng chống loại tội phạm này đang ngày càng gia tăng, trên địa bàn thủ đô và cả nước.

Xét tính chất đồng phạm: Trần Văn K là người rủ Vũ Văn T đi mua ma túy để sử dụng đồng thời bỏ tiền ra mua ma túy. Vũ Văn T khi được Trần Văn K rủ đi mua ma túy để sử dụng đã đồng ý và là người trực tiếp đi mua ma túy, vì vậy cả hai có vai trò ngang nhau đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

[3].Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân người phạm tội:

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét:

Hai bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng chất ma túy tàng trữ là 0,249 gam heroin trên mức khởi điểm.

*Đối với Vũ Văn T

  • -Về nhân thân:
  • Bị cáo không có tiền án.
  • Bị cáo có 02 tiền sự đã chấp hành xong.
  • + Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 85/QĐXP ngày 11/8/2009, Công an quận H, TP Hà Nội xử phạt Vũ Văn T 150.000 đồng hành vi trộm cắp tài sản, bị cáo đã nộp tiền phạt ngày 11/8/2009.
  • -Quyết định xử phạt vi phạm hành chính ngày 20/4/2007, Công an phường P, quận H, TP Hà Nội xử phạt Vũ Văn T 350.000 đồng về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tại Công an phường P không lưu giữ biên lai thu tiền phạt hoặc quyết định miễn chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính nhưng hồ sơ thể hiện ngày 20/4/2007, bị cáo có đơn xin miễn hình phạt vì lý do bị cáo là đối tượng lang thang, không có tiền nộp phạt. Công an quận H đã có quyết định số 97/2007/QĐ-HK đưa bị cáo vào cơ sở lưu trú tạm thời tại cơ sở chữa bệnh do bị cáo là người nghiện ma túy, lang thang, không nơi ở cố định và bị cáo đã chấp hành xong thời gian cai nghiện ma túy ngày 21/4/2009, vì vậy cần áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị cáo,
  • -Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • -Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo luôn khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

*Đối với Trần Văn K:

  • -Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.
  • -Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • -Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo luôn khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4]. Các vấn đề khác của vụ án: không có.

[5]. Về hình phạt bổ sung:

Bị cáo Vũ Văn T và bị cáo Trần Văn K đều là lao động tự do, không có công việc ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[6]. Xử lý vật chứng.

  • -Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì C tại các mép dán có chữ ký của các đối tượng Trần Văn K, Vũ Văn T, Cán bộ Công an phường H: Trần Tuấn N, giám định viên Phạm Trần N1.
  • -Đối với xe máy Honda wave màu: vàng, đen, bạc; BKS: 29V1-890.46; Số máy: JA39E24981530 ; Số khung: RLHJA3923NY000882 Giấy đăng ký xe đứng tên chủ xe: Trần Văn K, là tài sản thuộc quyền sở hữu của K. K đã trực tiếp sử dụng xe máy để chở T đi mua ma túy về sử dụng, đây là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội, cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
  • -Đối với 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A12, màu trắng, lắp sim số [...] thu giữ của Vũ Văn T, Vũ Văn T khai mượn của vợ là chị Phạm Thị H, sinh năm 1996, nơi thường trú: tổ E, phường M, quận H, TP Hà Nội, hiện ở: Phòng 214, chung cư C N, phường P, quận H, TP Hà Nội. Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra điện thoại, không phát hiện nội dung liên quan đến tội phạm, do đó, đây không phải là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội. Chị Phạm Thị H có đơn xin giải quyết vắng mặt và yêu cầu được lấy lại điện thoại, vì vậy cần trả lại cho chị Phạm Thị H.
  • -Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu xanh, lắp sim số 0397039824 thu giữ của Trần Văn K, cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra điện thoại, không phát hiện nội dung liên quan đến tội phạm, vì vậy đây không phải là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội, cần trả lại cho Trần Văn K.

[7] Án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo Vũ Văn T và bị cáo Trần Văn K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Vũ Văn T; Bị cáo Trần Văn K, chị Phạm Thị H có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Vũ Văn T và Trần Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự;

  • -Xử phạt Trần Văn K 16 (mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/12/2023.
  • -Xử phạt Vũ Văn T 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/12/2023.

3. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

  • -Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì C tại các mép dán có chữ ký của các đối tượng Trần Văn K, Vũ Văn T, Cán bộ Công an phường H: Trần Tuấn N, giám định viên Phạm Trần N1.
  • -Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) xe máy Honda Wave màu: vàng, đen, bạc; BKS: 29V1-890.46; Số máy: JA39E24981530; Số khung: RLHJA3923NY000882 (xe đã qua sử dụng).
  • -Trả lại 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A12, màu trắng, lắp sim số 0989491681 (đã qua sử dụng) cho chị Phạm Thị H, sinh năm 1996, nơi thường trú: tổ E, phường M, quận H, TP Hà Nội, hiện ở: P214, Chung cư N, phường P, quận H, TP Hà Nội.
  • -Trả lại 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu xanh, lắp sim số 0397039824 (đã qua sử dụng) cho bị cáo Trần Văn K.

Các vật chứng nêu trên có tình trạng, đặc điểm theo như Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/3/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận H, TP Hà Nội và Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, TP Hà Nội.

4. Án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án:

Bị cáo Vũ Văn T, bị cáo Trần Văn K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là chị Phạm Thị H có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • -Tòa án NDTP Hà Nội;
  • -VKSND quận Hà Đông, TP Hà Nội;
  • -VKSND TP Hà Nội;
  • -Công an quận Hà Đông, TP Hà Nội.
  • - Trại tạm giam số 2-CATP Hà Nội.
  • -Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, TP Hà Nội;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 77/2024/HSST ngày 12/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 77/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tran Van Trung va dong pham
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger