TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 77/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 11/6/2024
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Anh Thư.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Hoàn
Bà Nguyễn Thị Thu Vân
- Thư ký phiên toà: Bà Chu Tường Vy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Ngọc Vương – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 09/2024/TLST- HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2024 về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 55/2024/QĐST-HNGĐ ngày 20/5/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị Kim H, sinh năm 1987; trú tại: Số D Đ, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.
Bị đơn: Anh Nguyễn Đức Nguyên K, sinh năm 1982; trú tại: 4 Đ, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn chị Trần Thị Kim H trình bày:
Chị H và anh K tự nguyện yêu nhau, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại UBND phường P, quận T, thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận kết hôn số 124, quyền số 01/2009 cấp ngày 25 tháng 7 năm 2009.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chị H chung sống tại thành phố D, cuộc sống hôn nhân hạnh phúc được một thời gian, đến đầu năm 2012 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra tranh cãi. Nay chị H thấy vợ chồng không thể tiếp tục chung sống được nữa nên làm đơn xin ly hôn với anh K.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Trần Đức D, sinh ngày 25/02/2010 và Nguyễn Cát Lan V, sinh ngày 12/8/2017. Chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi hai con và yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi mỗi con 2.500.000đ/tháng (hai con là 5.000.000đ/tháng). Thời gian cấp dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Nguyễn Đức Nguyên K được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên toà.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng dân sự:
[1.1] Chị H khởi kiện yêu cầu được ly hôn anh K hiện đang trú tại khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
[1.2] Anh K được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, chị H có đơn yêu cầu được xét xử vắng mặt, do đó Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt chị H và anh K theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về hôn nhân: Chị H và anh K tự nguyện tìm hiểu đăng ký kết hôn tại UBND phường P, quận T, thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận kết hôn số 124, quyển số 01/2009 cấp ngày 25/7/2009, do đó quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh K là hợp pháp.
[2.2] Quá trình tố tụng chị H xác định cuộc sống hôn nhân của vợ chồng không hạnh phúc, thường xuyên cãi nhau, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung. Hiện chị H cùng con đã về nhà mẹ đẻ ở.
Anh K được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, coi như từ bỏ quyền trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị H.
Xét thấy, mâu thuẫn của vợ chồng chị H và anh K đã trầm trọng, không còn quan tâm đến nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị H được ly hôn với anh K.
[2.3] Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Trần Đức D, sinh ngày 25/02/2010 và Nguyễn Cát Lan V, sinh ngày 12/8/2017. Chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi hai con và yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi mỗi con 2.500.000đ/tháng (hai con là 5.000.000đ/tháng). Thời gian cấp dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi.
Xét thấy, việc chăm sóc nuôi dưỡng con chưa thành niên là trách nhiệm và nghĩa vụ của cha mẹ. Cháu D, cháu V đều có nguyện vọng được ở với mẹ và hiện tại hai cháu đang ở cùng mẹ. Để ổn định cuộc sống cũng như việc học tập của các cháu, Hội đồng xét xử tiếp tục giao hai cháu cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Anh K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi mỗi con 2.500.000đ/tháng, hai con là 5.000.000đ/tháng. Thời gian thực hiện việc cấp dưỡng kể từ khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
[2.4] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp.
[4] Về án phí: Nguyên đơn, bị đơn phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ :
- Khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Kim H đối với bị đơn anh Nguyễn Đức Nguyên K về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con.
- Về hôn nhân: Chị Trần Thị Kim H được ly hôn với anh Nguyễn Đức Nguyên K (theo giấy chứng nhận kết hôn số 124, quyền số 01/2009 do UBND phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 25/7/2009).
- Về con chung: Giao 02 con chung là Nguyễn Trần Đức D, sinh ngày 25/02/2010 và Nguyễn Cát Lan V, sinh ngày 12/8/2017 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Buộc anh K cấp dưỡng nuôi mỗi con 2.500.000đ/tháng (hai con là 5.000.000đ (năm triệu đồng)/tháng). Thời gian cấp dưỡng từ khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực đến khi con đủ 18 tuổi.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án khoản tiền lãi theo mức lãi suất qui định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Sau ly hôn, chị H và anh K có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở anh chị thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con, khi một hoặc cả hai bên đương sự có yêu cầu, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí: Chị H phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai số 0001519 ngày 09/01/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Buộc anh K phải nộp 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự ./.
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM | |
| THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
| Phạm Thị Anh T1 |
Bản án số 77/2024/HNGĐ-ST ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 77/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị đơn vắng mặt
