Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CÀNG LONG

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 77/2023/HS-ST

Ngày 26-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Nhật Thành.

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Đỗ Văn Chính

Ông Nguyễn Văn Điền

- Thư ký phiên tòa: Ông Thạch Ươn là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Mộng Cầm - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2023, tại 03 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Càng Long; điểm cầu thành phần tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh và Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. Tòa án nhân dân huyện Càng Long mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 78/2023/HSST ngày 01 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2023/HSST ngày 12 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Sơn Duyên, sinh năm 1996

Nơi cư trú: ấp N, xã B, huyện C, tỉnh Trà Vinh; Nghề nghiệp: Bán vé số; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Sơn H, sinh năm 1965 và bà Sơn Thị C, sinh năm 1962 (Chết); Bị cáo chưa có vợ, con; A, chị, em ruột: Có 03 người, lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất sinh năm 2003; Tiền án; Tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 11 tháng 10 năm 2023 cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh).

Người bào chữa cho bị cáo Sơn D: Bà Trần Thị H1 – Là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T (Có mặt tại điểm cầu thành phần Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T).

- Bị hại: Ông Thạch C1, sinh năm 1983 (Vắng mặt có đơn xét xử vắng mặt) Nơi cư trú: ấp N, xã B, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Sơn D1, sinh năm 1991 (Vắng mặt có đơn xét xử vắng mặt) Nơi cư trú: ấp N, xã B, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
  2. Bà Thạch Thị P, sinh năm 1963 (Vắng mặt có đơn xét xử vắng mặt) Nơi cư trú: ấp N, xã B, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

- Người làm chứng:

  1. Ông Thống Thanh T, sinh năm 1977 (Vắng mặt có đơn xét xử vắng mặt)
  2. Ông Võ Văn B, sinh năm 1962 (Vắng mặt có đơn xét xử vắng mặt)

Đồng nơi cư trú: ấp N, xã B, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ ngày 21 tháng 9 năm 2022, bị hại Thạch C1 mang theo một bịt bún nước lèo đi bộ đến nhà bà Thạch Thị P để mua rượu uống. Tại đây, Thạch C1 mua một lít rượu của bà P và vào nhà bà P lấy ra 01 (một) tô sứ màu trắng cùng 01 (một) đôi đũa tre, đổ bún ra ăn và uống rượu một mình tại băng ghế đá trước sân nhà bà P. Khoảng 15 phút sau, Sơn D1 đi bán vé số về ngang nên Thạch C1 rủ vào uống rượu cùng. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo Sơn D đi bán vé số về thấy anh ruột bị cáo là Sơn D1 đang ngồi uống rượu với Thạch C1 nên vào uống rượu chung.

Đến khoảng 12 giờ 45 phút cùng ngày, trong lúc Sơn D1 đi vệ sinh phía sau nhà bà P thì giữa Thạch C1 và bị cáo xảy ra cự cải, bị hại có lời lẽ xúc phạm bị cáo. Lúc này, do tức giận, bị cáo dùng tay nắm tóc bị hại kéo về phía mình, bị hại dùng tay gỡ tay bị cáo ra, cả hai tiếp tục giằng co qua lại làm bàn nhựa để thức ăn và rượu cặp băng ghế đá ngã đỗ, tô sứ và đũa tre rơi xuống đất. Lúc này, bị hại nhặt lấy một chiếc đũa tre ở dưới đất bẻ gãy làm đôi, cầm trên mỗi tay một đoạn đũa gãy đâm một cái trúng vùng cung mày bên phải của bị cáo gây thương tích, bị cáo mất thăng bằng té ngã. Sau đó, bị cáo nhặt lấy tô sứ ở dưới đất gần vị trí bàn nhựa ngã, cầm trên tay trái ném một cái trúng vùng cung mày bên phải của bị hại gây thương tích thì Sơn D1 đến can ngăn, tô sứ vỡ thành nhiều mảnh rơi xuống đất. Lúc này, bị hại bỏ đi sang phần đường đối diện nhà bà P, đi bộ dọc theo lề lộ bên phải của Đ huyện 6 hướng xã B đi xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Thấy vậy, bị cáo liền đi theo và nhặt 01 (một) đoạn gỗ tròn dài 38 cm, một đầu đoạn gỗ có đường kính 6,5 cm, đầu đoạn gỗ còn lại chia làm hai nhánh, mỗi đầu nhánh có đường kính lần lượt là 3,5 cm và 6 cm trong đống gỗ tạp ven đường, cầm trên tay phải và đuổi theo bị hại. Khi đến đoạn trước cổng nhà ông Tống Thanh T1, bị cáo đuổi kịp và tiếp tục cự cải, lúc này cả hai đứng đối diện nhau, cách nhau khoảng 01 mét. Do bực tức việc bị Thạch C1 gây thương tích, bị cáo cầm đoạn gỗ trên tay phải đánh hai cái liên tiếp trúng vùng gò má trái của bị hại gây thương tích làm bị hại bất tỉnh ngã xuống lộ nhựa. Lúc này, ông Tống Thanh T1 và ông Võ Văn B phát hiện sự việc nên can ngăn. Bị cáo ném bỏ đoạn gỗ xuống lộ nhựa cặp vị trí bị hại nằm rồi bỏ đi bộ sang lề lộ đối diện đi ngược về hướng nhà bà P. Đi được một đoạn, do bị say rượu nên bị cáo vấp ngã và nằm ngủ trên lộ nhựa. Sau khi sự việc xảy ra, bị hại được ông Sơn D1 đưa đến Trung tâm y tế huyện C kiểm tra thương tích. Do thương tích nặng, bị hại Thạch C1 được đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh T cấp cứu, nhập viện điều trị đến ngày 23 tháng 9 năm 2022 tự ý rời khỏi nơi điều trị về nhà. Riêng đối với bị cáo Sơn D được người dân đưa đến Trạm y tế xã B kiểm tra thương tích, không nhập viện điều trị.

Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 286/KLTTCT-2023 ngày 08 tháng 9 năm 2023 của Trung tâm pháp y - Sở Y tế tỉnh T kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Thạch C1 tại thời điểm giám định là 19% (mười chín phần trăm), cụ thể gãy xương gò má bên trái tỷ lệ 8% (tám phần trăm), vỡ xoang hàm bên trái tỷ lệ 7% (bảy phần trăm), 02 sẹo nhỏ vùng cung mày bên phải mỗi sẹo tỷ lệ 3% (ba phần trăm). Cơ chế hình thành vết thương là: Do ngoại lực tác động trực tiếp, vật gây ra thương tích là vật tày cứng, hướng tác động vết thương cung mày phải là từ trước ra sau, hướng tác động gãy xương gò má, vỡ xoang hàm trái là từ trái sang phải.

Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 298/2023/KLTTCT-TTPY ngày 20 tháng 9 năm 2023 của Trung tâm pháp y - Sở Y tế tỉnh T kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của bị cáo Sơn D tại thời điểm giám định là 03% (ba phần trăm); Cơ chế hình thành vết thương là: Do ngoại lực tác động trực tiếp, vật gây ra thương tích là vật tày cứng, hướng từ trước ra sau.

Tại bản cáo trạng số: 73/CT-VKS – HS, ngày 30 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh truy tố bị cáo Sơn D về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo Sơn D khai nhận: Vào khoảng 12 giờ 40 phút ngày 21 tháng 9 năm 2022 tại ấp N, xã B, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Bị cáo đã có hành vi dùng tay trái nhặt lấy 01 (một) tô sứ chọi trúng vào vùng cung mày bên phải của bị hại Thạch C1 gây thương tích. Khi Thạch C1 bỏ ra về thì bị cáo tiếp tục đi theo, nhặt một đoạn gỗ ven đường đánh trúng vào vùng mặt bên trái của bị hại Thạch C1. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của Thạch C1 là 19% (mười chín phần trăm).

Quan điểm của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo Sơn D phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Về tình tiết tăng nặng: không có; Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo và người thân trong gia đình đã bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn thuộc diện hộ cận nghèo; có một phần lỗi do phía bị hại, quá trình điều tra bị hại có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những căn cứ để áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo. Vị đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Đề nghị xử phạt bị cáo Sơn D từ 2 (Hai) năm đến 2 (Hai) năm 06 (Sáu) tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

Về trách nhiệm dân sự bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Ngoài ra, vị còn đề nghị xử lý vật chứng và án phí theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của trợ giúp viên pháp lý người bào chữa cho bị cáo Sơn D: Vị hoàn toàn thống nhất với tội danh và khung hình phạt mà bản cáo trạng của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long truy tố đối với bị cáo. Tuy nhiên, vị đề nghị Hội đồng xét xử xem xét phân tích nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo là do lỗi của bị hại, bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế xã hội khó khăn, bị cáo không biết chữ nên trình độ nhận thức về pháp luật còn hạn chế, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo ăn năn, hối cải tính chất và mức độ của hành vi do bị cáo gây ra có một phần lỗi của bị hại, hoàn cảnh gia đình của bị cáo khó khăn, sau khi phạm tội bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm nên đã tự mình và nhờ người thân trong gia đình khắc phục toàn bộ hậu quả cho bị hại. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 nên vị đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự do bị hại và các đương sự trong vụ án không yêu cầu nên đề nghị không xem xét. Ngoài ra, vị còn đề nghị xử lý vật chứng và án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Sơn D thống nhất với quan điểm của người bào chữa cho bị cáo và không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng không bổ sung tài liệu, đồ vật và không đề nghị triệu tập thêm người tham gia tố tụng. Xác định tư cách người tham gia tố tụng theo quyết định đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và giới hạn xét xử của Tòa án theo Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt là phù hợp với Điều 292 và Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự.

[2]. Lời nhận tội của bị cáo Sơn D tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng tại Cơ quan điều tra, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra thu thập được. Do vậy, Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh quyết định truy tố bị cáo Sơn D về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là phù hợp với qui định của pháp luật, không oan, không sai.

[3]. Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; bản thân bị cáo và bị hại không có mâu thuẩn gì từ trước nhưng chỉ vì có những lời lẽ xúc phạm, khiêu khích của bị hại trong khi say rượu dẫn đến cự cải và từ những lời nói và hành động thiếu chuẩn mực của bị hại C1 dẫn đến bị cáo dùng tay nắm tóc bị hại, bị hại dùng đũa tre đâm vào bị cáo gây thương tích trước, sau đó bị cáo đã có hành vi dùng tô sứ chọi trúng vào vùng cung mày bên phải của bị hại gây thương tích. Không dừng lại ở đó, khi được can ngăn, bị hại đã bỏ ra về thì bị cáo tiếp tục cố tình đi theo, nhặt một đoạn gỗ ven đường là hung khí nguy hiểm đánh hai cái vào bị hại làm gãy xương gò má trái, vỡ xoang hàm trái. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của Thạch C1 là 19% (mười chín phần trăm) thể hiện hành vi cố ý gây thương tích của bị cáo, xem thường pháp luật và sức khỏe của người khác.

[4]. Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, tội phạm đã hoàn thành, hậu quả đã xảy ra. Bị cáo nhận thức được hành vi gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật. Hành vi của bị cáo là xem thường pháp luật, xâm phạm đến sức khỏe của người khác, gây nổi lo sợ và hoang mang đến tinh thần người bị hại, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự xã hội ở địa phương.

[5]. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử cũng cần xem xét: Sau khi phạm tội bị cáo và người thân trong gia đình đã bồi thường, khắc phục toàn bộ hậu quả cho bị hại T; quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại không yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn buộc diện hộ cận nghèo; hành vi của bị cáo gây ra có một phần lỗi từ phía bị hại, bị cáo phạm tội lần đầu. Đây là những căn cứ để áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo.

Do đó ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ theo quy định của pháp luật, được Hội đồng xét xử chấp nhận. Đối với ý kiến của người bào chữa được Hội đồng xét xử chấp nhận một phần. Không chấp nhận áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự cho bị cáo.

[6]. Đối với bị hại T: Giữa bị hại và bị cáo Sơn D chưa từng xảy ra mâu thuẫn, ngày 21 tháng 9 năm 2022 trong quá trình uống rượu chung với bị cáo thì xảy ra cự cải. Sau khi giằng co qua lại bằng tay với bị cáo, Thạch C1 nhặt một chiếc đũa tre ở dưới đất bẻ gãy làm đôi, cầm trên mỗi tay một đoạn đũa gãy đâm một cái trúng vùng cung mày bên phải của bị cáo Sơn D gây thương tích với tỷ lệ 03%. Ngày 22 tháng 9 năm 2023 bị cáo Sơn D có đơn không yêu cầu xử lý hình sự đối với Thạch C1, việc không yêu cầu của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai xúi giục, ép buộc. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

[7]. Đối với bà Thạch Thị P: Khi Thạch C1 uống rượu đã tự ý lấy tô sứ, đũa tre của bà P để sử dụng. Quá trình xảy ra mâu thuẫn, giằng co bị cáo Sơn D đã ném vỡ tô sứ, bị hại Thạch C1 đã bẻ gãy đũa tre. Đối với số tài sản trên thuộc sở hữu của bà P đã bị hư hỏng, do tài sản có giá trị thấp được mua thời gian lâu, bà P không yêu cầu bồi thường nên không xem xét giải quyết.

[8]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[9]. Về vật chứng Cơ quan điều tra đã thu giữ:

07 (bảy) mảnh vỡ của tô sứ màu trắng có hoa văn màu xám, đen với kích thước khác nhau; 01 (một) đoạn gỗ tròn dài 38 cm, nặng 1,32 kg, một đầu đoạn gỗ có đường kính 6,5 cm, đầu đoạn gỗ còn lại chia làm hai nhánh, mỗi đầu nhánh có đường kính lần lượt là 3,5 cm và 6 cm. Đây là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[10]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

[11]. Về án phí: Bị cáo là người thuộc diện hộ cận nghèo, người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên miễn án phí cho bị cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Sơn D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Sơn D 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11 tháng 10 năm 2023.

  1. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  1. Về vật chứng: Căn cứ điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy 07 (bảy) mảnh vỡ của tô sứ màu trắng có hoa văn màu xám, đen với kích thước khác nhau; 01 (một) đoạn gỗ tròn dài 38 cm, nặng 1,32 kg, một đầu đoạn gỗ có đường kính 6,5 cm, đầu đoạn gỗ còn lại chia làm hai nhánh, mỗi đầu nhánh có đường kính lần lượt là 3,5 cm và 6 cm.

(Các vật chứng này hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Càng Long đang quản lý).

  1. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 12 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q;

Bị cáo Sơn D được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo có mặt tại phiên tòa biết, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày án sơ thẩm tuyên. Riêng bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

(Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 06, 07 và 09 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự).

Phiên tòa sơ thẩm được diễn ra theo hình thức trực tuyến tại ba điểm cầu: Điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Càng Long; điểm cầu thành phần tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh và Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T (với sự hỗ trợ kỹ thuật của các đồng chí cán bộ Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh và Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - VKSND huyện, tỉnh;
  • - CCTHADS huyện Càng Long;
  • - Công an huyện Càng Long;
  • - Các Bị cáo;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Nhật Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 77/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH về cố ý gây thương tích (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 77/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger