Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 10-6-2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN - TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Nhường.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lãnh Văn Việt.

Ông Phạm Văn Chữ.

Thư ký phiên tòa: Bà Diệp Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Đào Duy Đông - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 96/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2024/QÐST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2024/QÐST-DS ngày 31 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Vi Thị T, sinh năm 1993. Có mặt
  • - Bị đơn: Anh Lạc Văn Đ, sinh năm 1987. Vắng mặt

Cùng địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 20/2/2024 và những lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Vi Thị T, biên bản lấy lời khai của bị đơn anh Lạc Văn Đ nội dung vụ án như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Vi Thị T và anh Lạc Văn Đ kết hôn với nhau vào năm 2011, trước khi kết hôn có được tìm hiểu nhau trên cơ sở tự nguyện và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, chị T anh Đ có đi đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi cưới vợ chồng có về chung sống cùng nhau ngay. Chị T anh Đ chung sống với nhau thời gian đầu thì hạnh phúc nhưng đến khoảng tháng 7 năm 2017 thì vợ chồng thường xuyên nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau làm cho cuộc sống không có hạnh phúc. Chị T và anh Đ sống ly thân từ tháng 7 năm 2017 cho đến nay không còn ai quan tâm tới ai. Nay chị T thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên chị T đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh Lại Văn Đ1. Anh Đ1 xác nhận tình cảm vợ chồng không còn chị T làm đơn đề nghị ly hôn với anh thì anh nhất trí ly hôn với chị T.

- Về con chung: Chị Vi Thị T và anh Lạc Văn Đ có 02 con chung là cháu Lạc Thị Quỳnh T1, sinh ngày 30/3/2010 và cháu Lạc Mạnh H, sinh ngày 03/10/2014. Từ khi ly thân thì các cháu vẫn ở cùng anh Đ, sau khi ly hôn anh Đ có nguyện vọng nuôi dưỡng cả hai con chung, chị T có nguyện vọng nuôi dưỡng cháu Lạc Quỳnh T1 còn cháu Lạc Mạnh H để cho anh Đ nuôi dưỡng. Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chị T anh Đắc tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Vi Thị T và anh Lạc Văn Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 21/3/2024 cháu Lạc Thị Quỳnh T1 và cháu Lạc Mạnh H cùng trình bày: Nếu bố mẹ cháu kiên quyết ly hôn thì cháu có nguyện vọng ở cùng bố.

Quá trình giải quyết vụ án, vào ngày 21 tháng 3 năm 2024 Tòa án có tiến hành mở phiên công khai chứng cứ và hòa giải cho chị Vi Thị T và anh Lạc Văn Đ. Chị Vi Thị T và anh Lạc Văn Đ tự nguyện ly hôn và thống nhất với nhau được về quan hệ hôn nhân, về con chung hai bên thống nhất để anh Đ là người nuôi dưỡng hai con chung. Do vậy, Tòa án đã lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành giữa chị T và anh Đ. Tuy nhiên trong thời gian

07 ngày từ khi Tòa án lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành thì chị Vi Thị T có văn bản ý kiến và không nhất trí với biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành với lý do chị đề nghị Tòa án giao 01 con chung cho chị nuôi dưỡng. Do vậy, Tòa án tiến hành tiếp tục giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, chị Vi Thị T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị Tòa án giao cho chị nuôi dưỡng cháu L quỳnh T1, còn cháu Lạc Mạnh H để cho anh Đ nuôi dưỡng. Tại phiên tòa cháu Lạc Thị Quỳnh T1 và cháu Lạc Mạnh H trình bày bố mẹ ly hôn cháu có nguyện vọng ở với mẹ. Anh Đ vắng mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử công bố lời trình bày của anh Đ và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự. Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật, thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng nguyên tắc, trình tự tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 227; Điều 228; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vi Thị T, cho chị Vi Thị T được ly hôn với anh Lạc Văn Đ.
  2. Về con chung: Giao con chung là cháu Lạc Thị Quỳnh T1, sinh ngày 30/3/2010 cho chị Vi Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Giao con chung là cháu Lạc Mạnh H, sinh ngày 03/10/2014 cho anh Lạc Văn Đ trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết.

3. Về tài sản chung, công nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc chị Vi Thị T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Vi Thị T có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, con chung với anh Lại Văn Đ1. Bị đơn anh Lại Văn Đ1 đang sinh sống và cư trú tại thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Hội đồng xét xử xác định: Về quan hệ pháp luật đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Về thẩm quyền: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Tại phiên tòa bị đơn anh Lạc Văn Đ vắng mặt lần thứ hai không có ly do. Anh Đ đã được Tòa án tống đạt triệu tập hợp lệ. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Đ theo thủ tục chung.

[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy: Chị Vi Thị T và anh Lại Văn Đ1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang vào ngày 02 tháng 12 năm 2010. Trước khi kết hôn hai bên được tự do tìm hiểu và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương. Như vậy xác định đây là hôn nhân hợp pháp.

[4] Trong quá trình chung sống hai bên đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra cãi nhau, làm cho cuộc sống không hạnh phúc. Chị T anh Đ1 đã sống ly thân từ năm

2017 cho đến nay không còn ai quan tâm tới ai. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T anh Đ1 là có thật. Sau khi thụ lý vụ án chị T anh Đ1 đều cho rằng mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, không thể chung sống với nhau nữa. Quá trình giải quyết, chị T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đ1. Bị đơn anh Lạc Văn Đ cũng xác định vợ chồng có mâu thuẫn, không thể tiếp tục chung sống nên nhất trí theo yêu cầu ly hôn của chị T.

[5] Theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nhưng cả chị Vi Thị T và anh Lại Văn Đ1 đã không thực hiện nghĩa vụ vợ chồng theo như các quy định đã nêu ở trên. Như vậy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Vi Thị T và anh Lạc Văn Đ đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Vi Thị T được ly hôn anh Lạc Văn Đ như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.

[6] Về con chung: Chị Vi Thị T và anh Lại Văn Đ1 có 02 con chung là Lạc Thị Quỳnh T1, sinh ngày 30/3/2010 và cháu Lạc Mạnh H, sinh ngày 03/10/2014. Trường hợp vợ chồng ly hôn chị T đề nghị được nuôi dưỡng cháu T1 còn cháu H do anh Đ1 nuôi dưỡng và chăm sóc, anh Đ1 có nguyện vọng nuôi dưỡng cả hai con chung. Tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay cháu Lạc Thị Quỳnh T1 và cháu Lạc Mạnh H đều có nguyện vọng nếu bố mẹ ly hôn thì cháu có nguyện vọng ở với mẹ. Hội đồng xét xử xét thấy nguyện vọng nuôi con chung của chị Vi Thị T và anh Lạc Văn Đ đều là chính đáng. Do vậy, để đảm bảo sự phát triển ổn định của các con chung cũng đảm bảo quyền nuôi dưỡng con chung của các đương sự cần giao con chung là cháu Lạc Thị Quỳnh T1 cho chị T là người trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung là cháu Lạc Mạnh H cho anh Lạc Văn Đ nuôi dưỡng và chăm sóc như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với các Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình và phù hợp với nguyện vọng của con chung. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét, giải quyết vì các đương sự không yêu cầu.

[7] Về tài sản chung, công nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[8] Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 6, điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc chị Vi Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

[8] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ các Điều 6, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Vi Thị T.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Vi Thị T được ly hôn với anh Lại Văn Đ1.
  2. Về con chung: Giao con chung là cháu Lạc Thị Quỳnh T1, sinh ngày 30/3/2010 cho chị Vi Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Giao con chung là cháu Lạc Mạnh H, sinh ngày 03/10/2014 cho anh Lạc Văn Đ trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn anh Lại Văn Đ1, chị Vi Thị T được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở anh Đ1 chị T thực hiện quyền này.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục

con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

  1. Về án phí: Chị Vi Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006023 ngày 01 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Vi Thị T đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Án xử công khai sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Ngạn.
  • - UBND xã Thanh Hải, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang (Số 127/2011);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(đã ký)

Nguyễn Đức Nhường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 77/2024/HNGĐ-ST ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN - TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 77/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN - TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: rewst
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger