Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔNG HƯNG

TỈNH THÁI BÌNH

 

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Bản án số: 77/2024/HS-ST

Ngày: 09/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Tiến Hưng.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Vũ Hữu Quang – Bí thư đoàn thanh niên huyện Đông Hưng.
  2. Ông Hà Huy Khoa - Trưởng phòng quản lý thuế chi cục thuế huyện Đông Hưng

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng.

Đại diện VKSND huyện Đông Hưng tham gia phiên toà: Bà Lại Thị G - Kiểm sát viên

Ngày 09 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2024/TLST-HS ngày 01/3/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2024 QĐXXST- HS ngày 06/5/2024 đối với bị cáo:

Vũ Như T, sinh ngày: 01/11/2006. Tại: Tổ B, thị trấn A, huyện Q, tỉnh Thái Bình;

Nơi cư trú: Tổ B, thị trấn A, huyện Q, tỉnh Thái Bình;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không;

Trình độ văn hoá: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Vũ Như T1, sinh năm 1977 và bà: Vũ Thị H, sinh năm 1977.

Tính đến ngày phạm tội bị cáo 16 năm, 10 tháng, 16 ngày tuổi;

+ Tiền sự: Không;

+ Tiền án: Không;

Bị cáo bị “Cấm đi khỏi nơi cư trú”

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Vũ Như T1, sinh năm 1977.

Nơi cư trú: Tổ B, thị trấn A, huyện Q, tỉnh Thái Bình; (Bố của bị cáo)

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Bích T2- Trợ giúp viên- Trợ giúp Nhà nước tỉnh Thái Bình.

(Có mặt tại phiên tòa )

+ Bị hại: Nguyễn Thị Minh A, sinh năm 2007; trú tại thôn C, xã P, huyện

Đ; tỉnh Thái Bình (Chết do tai nạn giao thông)

- Người đại diện hợp pháp của bị hại:

Ông Nguyễn Công Đ, sinh năm 1976 và bà Phạm Thị V, sinh năm 1975. Đều cư trú tại: thôn C, xã P, huyện Đ; tỉnh Thái Bình. (Là bố và mẹ của bị hại Nguyễn Thị Minh A)

Vắng mặt tại phiên tòa,

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Lê Văn D, sinh ngày 20/11/2007, trú tại thôn Đ, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình.
  2. Người đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Văn H1, sinh năm 1985 – là bố đẻ anh D

    Nơi cư trú thôn Đ, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình

  3. Chị Đỗ Thị T3, sinh năm 1996
  4. Trú tại: thôn L, xã Đ, huyện Đ.

(Đều vắng mặt tại phiên tòa không có lý do)

+ Người làm chứng:

  1. Cao Tiến Đ1, sinh năm 2007; trú tại thôn C, xã P, huyện Đ; tỉnh Thái Bình.
  2. Nguyễn Đức M, sinh năm 2006 trú tại: Tổ B, thị trấn A, huyện Q, tỉnh Thái Bình
  3. Nguyễn Thị Thùy D1, sinh năm 2007, trú tại thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình

(Đều vắng mặt tại phiên tòa không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Như T không giấy phép lái xe theo quy định. Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 17/9/2023, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 17B5-685.47 ( dung tích xi lanh 109cm³) của mình chở sau là Nguyễn Đức M. Quá trình tham gia giao thông trên Q thì có xe mô tô biển số 17B5- 671.00 do Lê Văn D chở sau là Nguyễn Thị Thùy D1, D điều khiển xe đi cùng chiều vượt qua xe của T. Do bực tức bị D tạt qua đầu xe nên T tăng tốc đuổi theo D và yêu cầu D dừng lại để xin lỗi. Do lo sợ bị đánh nên D điều khiên xe bỏ chạy về hướng thành phố T. Thấy vậy, T tăng tốc xe đuổi theo; khi cả 02 xe đi đến Km 74 + 200 QL 10 thuộc thôn P, xã Đ, huyện Đ thì để xảy ra tai nạn. Khu vực này là đoạn đường cong, chia thành 02 chiều đường, phân cách bởi dải phân cách cứng. Chiều Hải Phòng đi Thái Bình được trải ápphan bằng phẳng và chia thành 02 làn đường, làn bên phải giáp vỉa hè đo 4,20 mét, làn bên trái giáp giải phân cách cứng đo 4,0 mét, phân cách giữa 02 làn dường là vạch sơn đứt quãng màu trắng.

Lúc này trời tối, mặt đường khô ráo, mật độ lưu thông vắng. Du điều khiển xe ở làn bên phải theo chiều đi, T đuổi ở phía sau xe Du. Phía trước bên phải cùng chiều lúc này có 03 phương tiện khác đang lưu thông gồm: xe đạp Di Bao biển số 17 MĐ3- 076.96 do cháu Nguyễn Thị Minh A chở sau là Cao Tiến Đ1, sinh năm 2007; bên phải xe của Minh A là xe đạp điện do Bùi Đăng K điều khiển song song. Bên trên xe của Minh A là xe SH Mode biển số 17B3- 435.67 do chị Đỗ Thị T3 chở sau là cháu Đỗ Thùy A1 và Đỗ Thu H2 đi sát vạch sơn đứt quãng. Cả 03 xe cách xe của D khoảng 05 mét đến 07 mét. Lúc này T đang đuổi ở phía sau bên trái của Du với tốc độ khoảng 50 đến 60 km/h; thấy T sắp đuổi kịp nên D đánh lái sang trái để tránh và vượt xe của Minh A, đồng thời lúc này xe của T cũng đã đuổi kịp xe của D. Do không giữ khoảng cách an toàn đối với xe của D nên khi xe của D đánh lái sang bên trái thì phần bánh xe trước của T đã va chạm vào phần đuôi chắn bùn sau và biển số xe của D khiến cả hai xe loạng choạng; xe của D vượt qua xe của Minh A, phần tay nắm lái bên phải xe của D có chạm qua sườn trái của Đ1; xe của Tuyến lúc này do đi với tốc độ cao nên toàn bộ phần đầu xe của T va chạm mạnh vào phần đuôi xe của Minh A làm xe của Minh A và xe của T cùng đổ ra đường; xe của D tiếp tục va chạm với xe của chị T3 và đổ trên vỉa hè. Hậu quả cháu Nguyễn Thị Minh A bị thương nặng và chết tại gia đình.

Tại bản kết luận giám định số 1421 ngày 04/10/2023 của phòng K1 Công an tỉnh T kết luận cháu Nguyễn Thị Minh A bị vỡ xương sọ vùng chẩm trái, chảy máu não chết do chấn thương sọ não.

Chị T3, cháu A1, cháu H2, cháu D1, cháu Đ1, cháu M và D bị xây xước nhẹ và đã từ chối giám định, 04 xe bị hư hỏng nhẹ.

Tại bản cáo trạng số 21/CT-VKSĐH ngày 29/02/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng đã truy tố bị cáo: Vũ Như Tuyến - Về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Kiểm sát viên trình bày bản luận tội:

Tại phiên tòa sơ thẩm không có tình tiết nào mới. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng đã truy tố.

Đề nghị tuyên bố bị cáo Vũ Như T - Phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

+ Về tình tiết giảm nhẹ:

Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; đã tích cực cùng gia đinh bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại; đại diện gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị can là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Khi phạm tội bị cáo là người chưa

thành niên nên bị cáo được áp dụng mức hình phạt nhẹ hơn người chưa thành niên quy định tại điều Điều 91và Điều 101 của Bộ luật Hình sự.

+ Về tình tiết tăng nặng:

Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào.

+ Đề nghị áp dụng a khoản 2 Điều 260; Điều 50; Điều 91; Điều 101; Điều 54; Điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo T từ 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 09 tháng tù.

+ Về vật chứng và tài sản thu giữ:

Đối với xe mô tô: 17B5- 685.47 của T; xe mô tô BKS 17 B5- 671.00 của ông H1; xe mô tô BKS 17 B3-435.67 của chị T3 và máy điện DIBAO BKS 17 MĐ3- 076.96 của cháu Minh A sau khi khám nghiệm phương tiện đã trả cho chủ sở hữu theo quy định.

+ Về trách nhiệm dân sự:

Gia đình bị cáo và bị cáo Vũ Như T và gia đình người liên quan Lê Văn D thoả thuận bồi thường gia đình bị hại cháu Nguyễn Thị Minh A số tiền 250.000.000 đồng, bồi thường cho chị T3 số tiền 65.000.000 đồng. Gia đình các bị hại đã nhận tiền và không yêu cầu bồi thường khoản nào khác. Những người khác gồm chị D1, cháu M, cháu A1, cháu H2, cháu Đ1 có xây xước nhẹ, họ không đi giám định và không có yêu cầu bồi thường. Đối với 04 xe bị hư hỏng nhẹ chủ sở hữu cũng không có yêu cầu bồi thường.

Quan điểm của Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo:

Nhất trí với Tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố.

Về hình phạt: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực bồi thường, bị cáo là người chưa thanh niên, phạm tội lần đầu. Do đó, đề nghị áp dụng Điều 54, Điều 91, Điều 101, Điều 65 để áp dụng hình phạt dưới khung cho bị cáo đồng thời cho bị cáo hưởng án treo.

Đại diện hợp pháp của bị cáo đồng ý với quan điểm của Người bào chữa.

PHẦN NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[I] Về tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố các Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tiến hành thu thập các tài liệu, chứng cứ theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.

- Về việc vắng mặt của những Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng, những người trên đã có lời khai tại Cơ quan điều tra. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[II] Về nội dung:

[1] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Vũ Như T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Ngoài ra còn được chứng minh bằng các chưng như biên bản khám nghiệm hiện trường vụ án; Biên bản khám nghiệm phương tiện thể hiện:

Khám nghiệm hiện trường: Hiện trường xảy ra tai nạn tại K+ 200 Quốc lộ A thuộc địa phận thôn P, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình hướng Đ đi thành phố T. Dấu vết chính gồm:

  • Cụm vết cày 1,2,3: Nằm trên đường xe chạy chiều Hải Phòng đi Đ, vết cày 01 đo (13,8×0,16) mét, cuối vết trùng với chân chống giữa xe máy điện 17MĐ3- 076.96, cách mép chuẩn 2,0 mét.
  • Xe máy điện MĐ3- 076.96 đổ nghiêng trái đầu hướng đi thành phố T, đuôi hướng thành phố Hải Phòng.
  • Xe mô tô 17B3- 435.67: Đổ nghiêng thành phải thuộc làn trong giáp giải phân cách cứng, đầu hướng Hải Phòng, đuôi hướng thành phố T.
  • Đám mảnh vỡ nhựa: Nằm rải rác mặt đường hướng Hải Phòng đi Thái Bình.

Khám nghiệm phương tiện.

Xe mô tô biển số 17B5- 685.47 (xe của T) có các dấu vết chính.

  • Mặt lăn và má lốp bên phải bánh trước, má lốp bên phải tương ứng với dòng chữ 38P có dấu vết trượt miết cao su hướng ngược chiều chuyển động, bề mặt bám dính tạp chất màu đen.
  • Càng bánh trước bị đẩy cong từ trước về sau, bánh lốp trước bị đẩy cong vặn nhẹ từ trái sang phải ép sát vào mặt trước. Toàn bộ mặt lăn bánh trước có vết trượt miết bề mặt, xước cao su tạo thành đường tròn khép kín.
  • 1/2 chắn bùn trước bị đẩy cong nhẹ từ trái sang phải. Tại đầu trước mặt trên chắn bùn có dấu trượt miết, xước 1phần sơn, nứt vỡ nhựa mới hướng từ trước về sau, bề mặt bám dính chất dạng sơn màu đỏ.Toàn bộ vết đo (36×30) cm.
  • Gãy vỡ mất mới toàn bộ ốp mặt nạ đầu xe, đầu trên cánh yếm bên phải bị đẩy bung bật, mất vỡ nhựa. Mặt ngoài đầu trên cánh yếm có vết nứt vỡ nhựa, trượt xước mất 1 phần sơn màu xanh, bề mặt bám dính chất dạng sơn màu đỏ, màu trắng bạc, toàn bộ vết đo ( 34×24) cm.

Xe mô tô biển số 17B5- 671.00 (xe của D2), có các dấu vết chính.

  • Mặt sau và mặt ngoài bên trái đuôi chắn bùn sau có vết trượt miết mất đất, cát, xước nhựa hướng từ trên xuống dưới, phải sang trái, sau về trước. Bề mặt in các đường trượt xước song song không đều nhau. Chỗ rộng nhất 2 đường song song cách nhau 1 cm, hẹp nhất cách nhau 0,2 cm.
  • ½ bên trái biển số bị cong kim loại hướng sau về trước. Mặt sau cạnh ngoài ốp kim loại biển số trượt miết mất đất cát, xước kim loại hướng sau về

trước, trên xuống dưới, bề mặt bám dính tạp chất màu đen và bột đá màu trắng. Vị trí thấp nhất và cao nhất cách đất là 52 cm và 62 cm.

  • Mặt trước cạnh ngoài càng phanh trước bên trái trượt xước kim loại hướng từ trước về sau, bề mặt bám dính tạp chất màu trắng xanh đen.
  • Ốp nhựa mặt nạ đầu xe bật hở khớp định vị phía dưới. Mặt trước ngoài bên trái và đầu trên cánh yếm có vết trượt xước đề can, xước sơn nhựa hướng từ phải sang trái, trước về sau.

Xe đạp điện DIBAO biển số 17MĐ3- 076.96 (xe của cháu Nguyễn Thị Minh A), có các dấu vết chính.

  • Gãy vỡ mất mới một phần cụm chắn bùn phía sau bánh lốp sau, kính đèn chiếu hậu và một phần ốp nhựa thân xe phía sau. Gáo đèn chiếu hậu cùng đèn chiếu hậu treo lơ lửng trượt khỏi vị trí định vị.
  • Gãy vỡ mất mới một phần đầu phía sau ốp nhựa thân phải.
  • Ốp nhựa thân xe bên trái bị đẩy bung bật các chốt định vị.

Xe mô tô biển số 17B3- 435.67 (xe của chị T3). Xe có các dấu vết chính.

  • Ốp nhựa gầm xe tương ứng phía dưới giá để chân sau bên phải bị đẩy bung bật các khớp định vị.
  • Giá để chân sau bị đẩy cong từ trước về sau, mặt sau giá để chân có vết trượt miết cao su hướng từ trước về sau, từ trái sang phải đo ( 9,5×2,5) cm.
  • Mặt sau, cạnh ngoài bên phải ốp nhựa phía sau cánh yếm bên phải, mặt ngoài cánh yếm bên phải vị trí cách đầu dưới cánh yếm 11 cm có dấu vết trượt miết bề mặt xước một phần nilong hướng từ sau về trước, bề mặt bám dính tạp chất màu đen, đo (9×7) cm.

- Biên bản khám nghiệm phương tiện và bản ảnh phương tiện.

- Biên bản khám nghiệm tử thi, kết luận giám định pháp y về tử thi, bản ảnh tử thi.

- Biên bản ghi lời khai người làm chứng Nguyễn Đức M, sinh năm 2006, trú tại Tổ B, thị trấn A, huyện Q, tỉnh Thái Bình;

- Biên bản ghi lời khai người làm chứng Nguyễn Thị Thùy D1, sinh năm 2007, trú tại Thôn B, xã T, huyện V;

- Biên bản ghi lời khai người có nghĩa vụ liên quan Lê Văn D.

Hành vi của bị cáo đã không chủ động tốc độ, không giữ khoảng cách an toàn giao thông dẫn đến gây tai nạn làm chết người đã vi phạm cụ thể:

Điều 12: Tốc độ và khoảng cách xe (Luật giao thông đường bộ)

1. Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường và phải giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình; ở nơi có biển báo “Cự ly tối thiểu giữa hai xe” phải giữ khoảng cách không nhỏ hơn số ghi trên biển báo.

Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G1

Điều 11: Khoảng cách an toàn giữa hai xe khi tham gia giao thông trên đường

a) Trong điều kiện mặt đường khô ráo, khoảng cách an toàn ứng với mỗi tốc độ được quy định như sau:

Tốc độ lưu hành (km/h) Khoảng cách an toàn tối thiểu (m)
V = 60 35
60 < V ≤ 80 55
80 < V ≤ 100 70
100 < V ≤ 120 100

Khi điều khiển xe chạy với tốc độ dưới 60 km/h, người lái xe phải chủ động giữ khoảng cách an toàn phù hợp với xe chạy liền trước xe của mình; khoảng cách này tùy thuộc vào mật độ phương tiện, tình hình giao thông thực tế để đảm bảo an toàn giao thông.

Cùng với bản kết luận giám định pháp y và việc bị cáo điều khiển xe có dung tích trên 50 cm³, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Vũ Như T4 đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 260của Bộ luật Hình sự.

Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Hành vi của bị cáo Vũ Như T là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến an toàn công cộng.

[2] Xét tính chất và mức độ của hành vi phạm tội:

Với hậu quả làm chết 01 người và không có Giấy phép lái xe thì hành vi của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng.

[3]Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào.

[4]Tình tiết giảm nhẹ:

Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; đã tích cực cùng gia đình bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại; đại diện gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị can là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Khi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên nên bị cáo được áp dụng mức hình phạt nhẹ hơn người chưa thành niên quy định tại điều Điều 91và Điều 101 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự . Do đó, áp dụng điều 54 của Bộ luật hình sự áp dụng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của điều luật đã quy định.

Về hình phạt xét thấy bị cáo đi xe phân khối lớn không có Giấy phép lái xe, chạy tốc độ nhanh, truy đuổi người khác là vô cùng nguy hiểm làm cho người tham gia giao thông hoang mang, lo sợ, gây ảnh hưởng đến trật tự, trị án cho xã hội. Do vậy, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn với bị cáo mới đủ giáo dục và cải tạo bị cáo.

[5]Trong vụ án này:

Đối với Lê Văn D sinh ngày 20/11/2007 là người dưới 16 tuổi (15 tuổi 9 tháng 26 ngày), điều khiển xe mô tô không có giấy phép lái xe để xảy ra tai nạn. Tuy nhiên xác định lỗi của D không phải nguyên gây ra cái chết của cháu Minh A. Công an huyện Đ đã ra quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi điều khiển xe mô tô chưa có giấy phép lái xe đối với D.

Đối với ông Lê Văn H1 là bố đẻ của D: xe mô tô do D điều khiển là của ông H1, xe đăng ký tên ông và là phương tiện hàng ngày ông dùng đi làm. Tối ngày 17/9/2023 khi D tự ý lấy xe đi chơi ông không biết nên không có căn cứ để xử lý về hành vi “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện tham gia giao thông đường bộ” đối với ông H1.

Đối với chiếc xe mô tô biển số 17B5- 685.47 xe mang tên Vũ Như T được mua từ tiền đi làm của T; khi T mua và đăng ký xe Tuyến không nói cho bố, mẹ biết nên không đặt ra xem xét hành vi “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện tham gia giao thông đường bộ” đối với bố, mẹ bị can Vũ Như T.

[6] Về vật chứng và tài sản thu giữ:

Đối với xe mô tô: 17B5- 685.47 của T; xe mô tô BKS 17 B5- 671.00 của ông H1; xe mô tô BKS 17 B3-435.67 của chị T3 và máy điện DIBAO BKS 17 MĐ3- 076.96 của cháu Minh A sau khi khám nghiệm phương tiện đã trả cho chủ sở hữu theo quy định. Do đó, không đặt ra gải quyết.

[7]Về trách nhiệm dân sự:

Gia đình bị cáo Vũ Như T và gia đình người liên quan Lê Văn D thoả thuận bồi thường gia đình bị hại cháu Nguyễn Thị Minh A số tiền 250.000.000

đồng, bồi thường cho chị T3 số tiền 65.000.000 đồng. Gia đình các bị hại đã nhận tiền và không yêu cầu bồi thường khoản nào khác. Những người bị hại khác gồm chị D1, cháu M, cháu A1, cháu H2, cháu Đ1 không yêu cầu bồi thường. Đối với 04 xe bị hư hỏng nhẹ chủ sở hữu cũng không yêu cầu gì. Đo đó, không đặt ra gải quyết.

[8] Về án phí Hình sự sơ thẩm:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, Đại diện của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Về tội danh:

Tuyên bố: Bị cáo Vũ Như T - Phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

[2] Về áp dụng luật và hình phạt:

- Áp dụng Điểm a khoản 2 Điều 260; Điều 50; Điều 91; Điều 101; Điều 54, Điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt bị cáo Vũ Như T - 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo T thi hành hình phạt tù.

[3] Về án phí:

- Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội, quy định mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, tạm ứng án phí.

Bị cáo Vũ Như T phải chịu 200.000đ tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, Đại diện hợp pháp của Bị hại, Người bào chữa, Người có quyền lợi liên quan và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày. Thời hạn kháng cáo đối với Bị cáo tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; Đối với Bị hại, người có Quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa tính từ ngày tống đạt hợp lệ bản án./.

Nơi nhận

  • - Bị cáo
  • - VKS, CA, THA h Đông Hưng.
  • - VKS tỉnh Thái Bình.
  • - Đâi diện Bị hại,
  • - Người có QLNVLQ.
  • - Người bào chữa.
  • - Sở tư pháp ( khi án có hiệu lực)
  • - Lưu HS, VP.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Bùi Tiến Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 77/2024/HS-ST ngày 09/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự)

  • Số bản án: 77/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger