|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 77/2024/HS-ST Ngày 09-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Minh Hằng - Nguyên Giáo viên Trường THCS Trần Phú
Bà Dương Thị Hồng Vân - Giáo viên Trung tâm giáo dục thường xuyên quận Hải An
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Diệu Hương - Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Vũ Văn Tường - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 63/TLST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2024, Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 169/TB -TA ngày 18 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 14/2024/HSST-QĐ ngày 27 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Thế T, sinh ngày 14 tháng 01 năm 2005 tại Hải phòng. Nơi cư trú: Số A Lô E Đ, phường S, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thế C và bà Nguyễn Thị L; không có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 05/12/2023, đến ngày 14/12/2023 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ, Công an quận H; có mặt.
2. Đỗ Trọng H, sinh ngày 25 tháng 01 năm 2004 tại Hải Phòng. Nơi ĐKHKTT: Số 22A C61 phường T, quận H, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Số B C phường T, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Quang M (đã chết) và bà Đoàn Thị V; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 15/01/2024, đến ngày 18/01/2024 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ, Công an quận H; có mặt.
3. Lều Thành C1, sinh ngày 11 tháng 9 năm 2006 tại Hải phòng. Nơi cư trú: Số A phường T, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; không xác định được bố, mẹ là Lều Thị H1 (đã chết); không có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 14/12/2023; đến ngày 31/01/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố H bắt tạm giam tại Trại tạm giam Công an thành phố H; có mặt.
- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: Bà Đoàn Thị Đ; nơi cư trú: Số A phường T, quận H, thành phố Hải Phòng (là cụ ngoại của bị cáo C1); có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Đoàn Thị H2 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H; có mặt.
4. Phạm Thanh T1, sinh ngày 09 tháng 6 năm 2007 tại Hải phòng. Nơi ĐKHKTT: Số C đường V, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Số F H, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn P và bà Phạm Thị H3; không có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 14/12/2023; đến ngày 31/01/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố H bắt tạm giam tại Trại tạm giam Công an thành phố H; có mặt.
- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: Bà Phạm Thị H3; nơi cư trú: Số C đường V, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng (là mẹ đẻ của bị cáo Phạm Thanh T1); có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Thu T2 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H; có mặt.
5. Dương Tuấn M1, sinh ngày 21 tháng 7 năm 2007 tại Hải phòng. Nơi cư trú: Số B T, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Tuấn A và bà Nguyễn Thị Lan A1; không có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 14/12/2023; đến ngày 31/01/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố H bắt tạm giam tại Trại tạm giam Công an thành phố H; có mặt.
- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: Ông Dương Tuấn A; nơi cư trú: Số I Miếu H, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng (là bố đẻ của bị cáo Dương Tuấn M1); có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Thu T2 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H.
6. Mạc Nguyễn Tuấn H4, sinh ngày 02 tháng 12 năm 2007 tại Hải phòng. Nơi ĐKHKTT: Số H T, phường C, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Số E đường T, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mạc Quang H5 và bà Nguyễn Thị N; không có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 14/12/2023; có mặt.
- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị N; Nơi ĐKHKTT: Số H đường T, phường C, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Số E đường T, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng (là mẹ đẻ của bị cáo Mạc Nguyễn Tuấn H4); có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Đoàn Thị H2 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Đỗ Minh Đ1; nơi cư trú: Số B Chợ H, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Người làm chứng:
- Anh Đào V; vắng mặt.
- Ông Phạm Đình H6; vắng mặt.
- Cháu Nguyễn Cao P1, sinh ngày 30/7/2008 và bà Đỗ Thị Thùy D là người đại diện hợp pháp của cháu P1; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đỗ Trọng H, Nguyễn Thế T, Lều T, Mạc Nguyễn Tuấn H4, Phạm Thanh T1, Dương Tuấn M1 và Nguyễn Cao P1, sinh ngày 30/7/2008, trú tại: Số H đường T, phường S, quận H, thành phố Hải Phòng (nhóm H) là bạn bè quen biết nhau ngoài xã hội. Vào các buổi tối hằng ngày, nhóm H thường tập trung tại khu vực chợ H8 ở chân cầu B thuộc quận H, thành phố Hải Phòng, sau đó sử dụng xe mô tô chở nhau đi trên các tuyến đường trên địa bàn thành phố Hải Phòng với tốc độ cao, lạng lách, đánh võng và tìm các nhóm thanh niên khác để gây sự, đánh nhau. Khoảng 20 giờ ngày 03/12/2023, nhóm H hẹn gặp nhau tại khu vực chân cầu B. Lúc này, P1 điều khiển xe mô tô BKS 15B2 - 43141 đi đón H4 (cầm theo 01 kiếm nhật, 01 dao mèo) và tiếp tục đến đón T. Hồi, M1, T1, C1 rủ nhau ra khu vực bờ đê thuộc phường T, quận H, thành phố Hải Phòng lấy 01 kiếm nhật, 01 đao tự chế (của C1 để ở đó) rồi tất cả đi đến điểm hẹn ở khu vực chân cầu B. Lúc này, C1 điều khiển xe mô tô BKS 15H1-20122 chở M1 ngồi sau (cầm 01 kiếm nhật); H điều khiển xe mô tô Airblade màu đen (không đeo BKS) chở T1 ngồi sau (cầm 01 đao tự chế); H4 điều khiển xe mô tô BKS 15B2-43141 chở T ngồi giữa (cầm 01 dao mèo) và P1 ngồi sau cùng (cầm 01 kiếm nhật) rồi cả nhóm đi đến khu vực vòng xuyến V thuộc phường T, quận H, thành phố Hải Phòng thì gặp Gia K, Đức H7 cùng 04 nam thanh niên (đều không rõ lai lịch địa chỉ) đi trên 02 xe mô tô (nhóm K). Sau đó, hai nhóm đi đến khu vực vòng xuyến Lê Hồng P2 - Đà Nẵng (vòng xuyến Cát Bi P3) thì nhóm H đi trước và tách khỏi nhóm K. Nhóm H tiếp tục đi xe mô tô vào làn đường dành cho xe ô tô trên đường L với tốc độ khoảng 70-90 km/h, chạy vỉa đầu, lạng lách để trêu nhau, đi đến ngã ba giao cắt với đường T thuộc phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng thì cả nhóm vòng lại tiếp tục đi về hướng vòng xuyến Cát Bi P3 rồi lại quay xe đi về hướng sân bay C. Khi gần đến khu vực ngã ba giao cắt với đường T thì nhóm của H gặp một nhóm thanh niên khác khoảng 10 người đi trên 4-5 xe mô tô (cũng đi ở làn đường dành cho xe ô tô) theo chiều ngược lại. Nhóm này dùng đèn pin soi vào nhóm H và nói “chúng mày lên đây, lên đây” thì nhóm H quay lại đuổi theo, đuổi đến gần vòng xuyến cầu vượt BigC thì mất dấu nên nhóm H tiếp tục đi về hướng vòng xuyến Cát Bi P3 rồi tiếp tục quay xe lại đi về hướng sân bay C, đi đến ngã ba đường T thì cả nhóm lại vòng lại. Khi đi qua vòng xuyến cầu vượt B C khoảng 50-100m thì phát hiện có một nhóm khác khoảng 04 xe mô tô cũng đi trên làn đường dành cho xe ô tô theo hướng ngược lại. Nhóm Hồi tưởng đây là nhóm soi đèn pin lúc trước nên cả nhóm quay lại đi ngược chiều trên làn đường dành cho xe ô tô, đến vòng xuyến cầu vượt BigC thì cả nhóm rẽ sang làn đường dành cho xe ô tô xuôi chiều để đuổi theo. Khi đuổi đến khu vực cửa hàng N1 trên đường L thuộc phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng thì nhóm H đuổi kịp và chặn 01 xe mô tô BKS 15F1-35144 do anh Đào Vũ D1, sinh ngày 07/5/2005, trú tại: Số A B, TDP C, đường L, phường C, quận H, thành phố Hải Phòng điều khiển chở anh Đỗ Minh Đ1, sinh ngày 27/10/2005, trú tại: Số B Chợ H, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng ngồi sau. Thấy vậy, anh D1, anh Đ1 bỏ xe chạy bộ vào trong ngõ ở phía sau cửa hàng nội thất ROYAL. Anh D1 chạy thoát được, còn anh Đ1 bị nhóm H đuổi kịp. Tại đây, M1 cầm kiếm chém 01 phát vào lưng; P2 cầm kiếm chém 01 phát vào bả vai; T cầm dao mèo chém 2-3 phát vào tay, chân; Công giật lấy kiếm của P2 chém 3-4 phát vào người anh Đ1. Hồi, T1 đuổi theo 02 thanh niên khác, khi quay lại định xông vào đánh thì anh Đ1 xin nên nhóm H không đánh nữa và lên xe bỏ đi.
Sau khi phạm tội, ngày 04/12/2023, Nguyễn Thế T, Dương Tuấn M1 và Mạc Nguyễn Tuấn H4 đến Công an phường Đ, quận H tự thú. Cùng ngày, Nguyễn Cao P1 đến Công an phường Đ, quận H đầu thú; sau đó, lần lượt Lều T, Phạm Thanh T1 và Đỗ Trọng H đến Cơ quan Công an đầu thú và giao nộp: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, BKS 15H1-20122; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, BKS 15B2-431.41 và 01 con dao (dao mèo) phần lưỡi dài 45,3cm, bản rộng nhất 4,7cm; cán bằng gỗ màu đỏ dài 19,5cm; có bao bằng gỗ màu đỏ dài 53,6cm, rộng 6,3cm.
Tại Biên bản xác định hiện trường ngày 05/12/2023, xác định sự việc xảy ra thuộc Lô A L, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng. Ngày 05/12/2023, Tổ dân phố, Chi bộ Tổ dân phố Trung Hành 8, phường Đ có đơn kiến nghị gửi Công an quận H; cùng ngày, Ủy ban nhân dân phường Đ có văn bản gửi Công an quận H với nội dung: “Nhận thấy vụ việc trên diễn ra ở tuyến đường L là nơi có lưu lượng người và phương tiện tham gia giao thông đông đúc, nhiều cơ sở kinh doanh dịch vụ. Hành vi của các đối tượng rất côn đồ, hung hãn, ngang nhiên coi thường pháp luật, coi thường sức khoẻ, tính mạng của người khác, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh hoạt của các hộ dân và hoạt động kinh doanh của các cơ sở kinh doanh dịch vụ xung quanh khu vực, gây tâm lý hoang mang lo sợ và dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, làm giảm sút niềm tin của quần chúng nhân dân vào chính quyền và pháp luật. Vụ việc đã gây hậu quả rất xấu về an ninh trật tự trên địa bàn Tổ dân phố T cũng như trên địa bàn phường Đ” và đề nghị các cơ quan chức năng xử lý nghiêm các đối tượng theo quy định của pháp luật.
Tại Kết luận giám định số 17/KLGĐ ngày 09/01/2024 của Trung tâm P về thương tích của anh Đỗ Minh Đ1, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do sẹo vết xây xước da vùng thái dương gò má trái gây nên là 06%; tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do sẹo vết thương rách da mặt sau 1/3 trên cẳng tay trái gây nên là 01%; tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do sẹo vết xây xước da mặt sau ngoài 1/3 trên đùi trái gây nên là 02%. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 09%. Các thương tích trên có đặc điểm do vật sắc hoặc tương đối sắc tác động trực tiếp theo hướng gần như vuông góc với bề mặt da nơi tổn thương gây nên.
Tại Kết luận giám định số 106/KLGĐ ngày 12/01/2024 của Phòng K1 Công an thành phố H, kết luận: 02 xe mô tô mang BKS 15H1-20122 và 15B2-43141 đều có số khung, số máy là số nguyên thuỷ, không phát hiện có sự tẩy xoá hoặc sửa chữa các ký tự.
Tại Phiếu trả lời xác minh xe của Công an quận H thể hiện: Xe mô tô mang BKS 15H1-20122 chủ xe Vũ Cảnh A2, địa chỉ: P, Q, T, Hải Phòng, mã định danh: 030643653; xe mô tô mang BKS 15B2-43141 chủ xe: Đỗ Thị Thùy D, địa chỉ: H Đại Lộ T, Hồ N, Hải Phòng, mã định danh: 031184002649. Kết quả tra cứu vật chứng thể hiện: xe mô tô mang BKS 15H1-20122 và xe mô tô mang BKS 15B2-43141 không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Đỗ Trọng H, Nguyễn Thế T, Dương Tuấn M1, Mạc Nguyễn Tuấn H4, Lều Thành C2, Phạm Thanh T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung trên. Ngoài ra, các bị can còn khai: trong nhóm K, các bị can chỉ biết hai người tên là Gia K và Đức H7 vì thỉnh thoảng có đi chơi cùng nhau nhưng không biết lai lịch địa chỉ của những người này. Ngày 03/12/2023, sau khi tách ra không biết nhóm của K đi đâu và nhóm K cũng không tham gia đuổi đánh anh Đỗ Minh Đ1. Sau khi đánh anh Đ1; M1, P1, T1 đã đưa 02 kiếm và 01 đao tự chế cho C2, C2 đã vứt ở khu vực bờ đê thuộc phường T, quận H, thành phố Hải Phòng nhưng không nhớ rõ địa điểm. Dương Tuấn M1 khai: Chiếc xe mô tô BKS 15H1-20122 là của anh Nguyễn Khắc D2, sinh 1986, trú tại: Số A đường H, phường S, quận H, thành phố Hải Phòng (cậu M1), tối ngày 03/12/2023, khi anh D2 không có ở nhà, M1 đã tự ý lấy xe đi chơi. Đỗ Trọng H khai: Chiếc xe Airblade màu đen, không nhớ BKS là của chị Đoàn Thị V, sinh 1980, trú tại: Số B phường T, quận H, thành phố Hải Phòng (mẹ H), tối ngày 03/12/2023, chị V đi làm, H đã tự ý lấy xe đi chơi. Anh Nguyễn Cao P1 khai: Chiếc xe mô tô BKS 15B2-43141 là của chị Đỗ Thị Thùy D, sinh 1983, trú tại: Số H T, phường S, quận H, thành phố Hải Phòng (mẹ P1). Tối ngày 03/12/2023, chị D không có ở nhà, P1 đã tự ý lấy xe đi chơi.
Về xử lý vật chứng:
- - Chuyển 01 con dao (dao mèo) phần lưỡi dài 45,3cm, bản rộng nhất 4,7cm; cán bằng gỗ màu đỏ dài 19,5cm; có bao bằng gỗ màu đỏ dài 53,6cm, rộng 6,3cm đến Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng để quản lý theo quy định.
- - Đối với 02 kiếm và 01 đao tự chế, Công khai vứt ở khu vực bờ đê thuộc phường T, quận H, thành phố Hải Phòng. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã rà soát, tìm kiếm nhưng không thu hồi được.
- - Đối với chiếc xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu H9, BKS 15B2-431.41 chủ xe là Đỗ Thị Thùy D, địa chỉ: H Đại Lộ T, Hồ N, Hải Phòng, mã định danh: 031184002649. Chị D không biết việc P1 đã tự ý lấy xe đi chơi. Do vậy, ngày 25/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận H đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, BKS 15B2-431.41 cho chị Đỗ Thị Thùy D.
- - Đối với chiếc xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu Yamaha, BKS 15H1-201.22 chủ xe là Vũ Cảnh A2, địa chỉ: P, Q, T, Hải Phòng, mã định danh: 030643653. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, anh A2 trình bày: Khoảng năm 2015 - 2016 anh A2 làm nghề buôn bán xe máy cũ, anh có mua và đăng ký chiếc xe mô tô trên, đi được một thời gian thì anh bán, anh không nhớ bán cho ai. Anh Nguyễn Khắc D2 trình bày: Khoảng năm 2016 - 2017 anh mua chiếc xe mô tô BKS 15H1-20122 của một người đàn ông khoảng 40 tuổi ở khu vực bến xe T với giá 11.000.000 đồng. Người đàn ông này đã viết giấy bán xe và đưa giấy đăng ký xe cho anh. Quá trình sử dụng anh đã làm mất các giấy tờ trên. Ngày 03/12/2023, anh đi uống bia cùng với bạn, khi đi anh để xe ở nhà. Việc M1 lấy xe đi không nói với anh và anh cũng không biết. Trong các ngày 30, 31/3/2024 và ngày 01/4/2024 Báo An ninh H10 đã đăng bài để tìm chủ sở hữu chiếc xe mô tô BKS 15H1-20122 nhưng đến nay chưa phát hiện ai khác ngoài anh Nguyễn Khắc D2 là chủ sở hữu đối với chiếc xe này. Do vậy, ngày 25/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận H đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô mang BKS 15H1-20122 cho anh Nguyễn Khắc D2.
- - Đối với chiếc xe Airblade màu đen Đỗ Trọng H điều khiển là của chị Đoàn Thị V (mẹ H) mượn của người bạn tên G, chị V đã trả lại chiếc xe này cho G (hiện không xác định được lai lịch) nên không có cơ sở xác minh.
Về dân sự: anh Đỗ Minh Đ1 không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường.
Tại Cáo trạng số 67/CT-VKS ngày 20 tháng 5 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng truy tố Nguyễn Thế T, Đỗ Trọng H, Lều T, Phạm Thanh T1, Dương Tuấn M1 và Mạc Nguyễn Tuấn H4, về tội Gây rối trật tự công cộng, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Thế T, Đỗ Trọng H, Lều T, Phạm Thanh T1, Dương Tuấn M1 và Mạc Nguyễn Tuấn H4, khai nhận hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An truy tố. Các bị cáo Đỗ Trọng H, Nguyễn Thế T, Lều Thành C2, Mạc Nguyễn Tuấn H4, Phạm Thanh T1 và Dương Tuấn M1 nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xử mức án thấp nhất.
Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị cáo Lều Thành C2, bà Đoàn Thị Đ trình bày: Bà Đ là cụ ngoại của bị cáo C2. Bị cáo C2 không có bố và mẹ mất ngay sau khi Công sinh ra, bản thân mắc bệnh hiểm nghèo bẩm sinh, hiện nay bà Đ là người thân duy nhất và nuôi dưỡng C2 từ nhỏ. Bà Đ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh, xét xử bị cáo C2 mức án thấp nhất.
Đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Thanh T1, bà Phạm Thị H3 trình bày: Bà H3 là mẹ đẻ của bị cáo T1. Gia đình bà thuộc diện nghèo ở địa phương và bị cáo T1 phải nghỉ học từ cấp hai đi làm phụ giúp gia đình. Nay bị cáo T1 ham chơi, nhận thức hạn chế nên đã vi phạm pháp luật. Bà H3 đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ, xét xử bị cáo T1 mức án thấp nhất để sớm được trở về với gia đình.
Đại diện hợp pháp của bị cáo Dương Tuấn M1, ông Dương Tuấn A trình bày: Ông Tuấn A là bố đẻ của bị cáo M1. Vợ chồng ông Tuấn A ly hôn 01 năm nay, bị cáo M1 thiệt thòi về tình cảm, lúc ở với bố, lúc ở với mẹ, thiếu sự quan tâm sát sao của gia đình. Chính hoàn cảnh gia đình như vậy, bị cáo M1 đã ham chơi và vi phạm pháp luật. Ông Tuấn A đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ, xét xử bị cáo M1 mức án thấp nhất.
Đại diện hợp pháp của bị cáo Mạc Nguyễn Tuấn H4, bà Nguyễn Thị N trình bày: Bà N là mẹ đẻ của bị cáo H4. Bị cáo H4 thi cấp 3 không đỗ nên gia đình cho đi học nghề sửa chữa oto và xe nâng tại nhà bác họ. Trong quá trình học nghề, bị cáo H4 ngủ tại xưởng nên gia đình chủ quan không theo dõi sát sao, dẫn đến buổi tối bị cáo đua đòi đua xe vi phạm pháp luật. Bản thân bị cáo H4 có nhiều tình tiết giảm nhẹ như thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, tự thú và có ông ngoại được tặng thưởng Huy chương chiến sỹ vẻ vang. Bà N đề nghị Hội đồng xét xử xét xử bị cáo H4 mức án thấp nhất và được cải tạo ngoài xã hội.
Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo Lều Thành C2 và bị cáo Mạc Nguyễn Tuấn H4, bà Đoàn Thị H2 phát biểu: Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An truy tố bị cáo Lều Thành C2 và bị cáo Mạc Nguyễn Tuấn H4 về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ và đúng quy định pháp luật. Các bị cáo phạm tội khi chưa thành niên, bị cáo C2 phạm tội 17 tuổi 02 tháng 22 ngày và bị cáo H4 phạm tội 16 tuổi 0 tháng 01 ngày. Các bị cáo chưa có sự phát triển đầy đủ thể chất và tinh thần, chưa có độ chín chắn trong suy nghĩ và hành động, kiến thức xã hội cũng như nhận thức pháp luật còn hạn chế. Ngoài ra bị cáo C2 mắc bệnh hiểm nghèo bẩm sinh, hàng ngày phải uống thuốc, mẹ mất ngay sau khi sinh bị cáo và ở với cụ ngoại từ nhỏ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình xét xử bị cáo C2 mức hơn mức đề nghị của Kiểm sát viên. Đối với bị cáo H4 có nhiều tình tiết giảm nhẹ như thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, tự thú và có ông ngoại được tặng thưởng Huy chương chiến sỹ vẻ vang, đây là các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo H4 được hưởng theo quy định tại điểm s, r khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị xét xử bị cáo H4 mức án thấp và và hưởng án treo cải tạo ngoài xã hội.
Người bào chữa cho bị cáo Phạm Thanh T1 và bị cáo Dương Tuấn M1, bà Nguyễn Thị Thu T2 phát biểu: Đồng ý với tội danh mà Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An truy tố đối với bị cáo Phạm Thanh T1 và bị cáo Dương Tuấn M1. Các bị cáo phạm tội khi chưa thành niên, bị cáo T1 phạm tội 16 tuổi 05 tháng 24 ngày và bị cáo M1 phạm tội 16 tuổi 04 tháng 12 ngày. Bị cáo T1 và bị cáo M1 có nhiều tình tiết giảm nhẹ như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội bị cáo M1 đã ra tự thú, còn bị cáo T1 đã ra đầu thú. Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, cho bị cáo M1 và bị cáo T1 dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và xét xử mức án thấp hơn Kiểm sát viên đề nghị.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Thế T, Đỗ Trọng H, Lều Thành C2, Phạm Thanh T1, Dương Tuấn M1 và Mạc Nguyễn Tuấn H4 về tội danh, điều luật áp dụng như cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự tuyên phạt: Bị cáo Nguyễn Thế T từ 33 tháng đến 36 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng.
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự tuyên phạt: Bị cáo Đỗ Trọng H từ 30 tháng đến 36 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự tuyên phạt: Bị cáo L1 Thành Công từ 24 tháng đến 27 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng.
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự tuyên phạt: Bị cáo Phạm Thanh T1 từ 21 tháng đến 24 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng.
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s, r khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự tuyên phạt: Bị cáo Dương Tuấn M1 từ 21 tháng đến 24 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng.
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65; Điều 91 Bộ luật Hình sự tuyên phạt: Bị cáo Mạc Nguyễn Tuấn H4 từ 18 tháng đến 21 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 tháng đến 42 tháng về tội Gây rối trật tự công cộng.
- - Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao (dao mèo) phần lưỡi dài 45,3cm, bản rộng nhất 4,7cm; cán bằng gỗ màu đỏ dài 19,5cm; có bao bằng gỗ màu đỏ dài 53,6cm, rộng 6,3cm.
- - Về án phí: Các bị cáo Đỗ Trọng H và Nguyễn Thế T, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bà Đoàn Thị Đ (đại diện hợp pháp của bị cáo Lều Thành C2) phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm; bà Phạm Thị H3 (đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Thanh T1) phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm; ông Dương Tuấn A (đại diện hợp pháp của bị cáo Dương Tuấn M1) phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm; bà Nguyễn Thị N (đại diện hợp pháp của bị cáo Mạc Nguyễn Tuấn H4) phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử:
- [1] Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- [2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Thế T, Đỗ Trọng H, Lều T, Phạm Thanh T1, Dương Tuấn M1 và Mạc Nguyễn Tuấn H4, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về chứng cứ xác định bị cáo có tội:
- [3] Tối ngày 03/12/2023, các bị cáo Nguyễn Thế T, Đỗ Trọng H, Dương Tuấn M1, Lều T, Phạm Thanh T1 và Mạc Nguyễn Tuấn H4 đã mang theo dao, kiếm và điều khiển xe mô tô đi vào làn đường dành cho xe ô tô trên tuyến đường L, thành phố Hải Phòng với tốc độ cao “tạt đầu”, lạng lách, đánh võng. Sau đó, các đối tượng đã đuổi theo xe mô tô do anh Đào Vũ D1 điều khiển chở anh Đỗ Minh Đ1 ngồi sau, đuổi đến khu vực Lô A đường L, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng các đối tượng đã chặn xe mô tô của anh D1 và dùng dao, kiếm chém làm anh Đ1 bị tổn thương sức khỏe là 09%.
- [4] Lời khai nhận của các bị cáo Nguyễn Thế T, Đỗ Trọng H, Dương Tuấn M1, Lều Thành C2, Phạm Thanh T1 và Mạc Nguyễn Tuấn H4 tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người liên quan, người làm chứng, biên bản xác định hiện trường, sơ đồ hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
- [5] Như vậy, có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Nguyễn Thế T, Đỗ Trọng H, Dương Tuấn M1, Lều Thành C2, Phạm Thanh T1 và Mạc Nguyễn Tuấn H4 phạm tội Gây rối trật tự công cộng, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
- [6] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến các qui định về trật tự công cộng được pháp luật và Nhà nước bảo vệ, xâm phạm đến sinh hoạt và đi lại nơi công cộng gây hậu quả nghiêm trọng, nên việc xử lý các bị cáo bằng biện pháp hình sự là cần thiết và đúng qui định của pháp luật. Ngoài ra, hành vi của các bị cáo còn tác động xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, thể hiện ý thức xem thường pháp luật. Đối với các bị cáo cần phải áp dụng mức hình phạt thật nghiêm khắc, tương xứng với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện, cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
- Xét vai trò của các bị cáo:
- [7] Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có bàn bạc phân công, chỉ huy trong việc gây rối trật tự công cộng, đuổi đánh anh D1, anh Đ1, do đó các bị cáo đều là người thực hành. Bị cáo Đỗ Trọng H và bị cáo Nguyễn Thế T khi phạm tội đã thành niên, bị cáo T đã dùng dao trực tiếp chém vào người anh Đ1 2 đến 3 phát, bị cáo H đuổi theo hai thanh niên khác không kịp thì quay lại, vì vậy hình phạt của bị cáo T cao hơn bị cáo H. Bị cáo C2, M1, T1, H4 phạm tội đều chưa thành niên, trong đó bị cáo C2 là người chuẩn bị dao, kiếm, là người giật lấy kiếm của P1 chém 3-4 phát vào người anh Đ1 và cũng là người cầm dao, kiếm đi cất dấu nên mức hình phạt ngang bằng bị cáo T và cao hơn các bị cáo còn lại. Bị cáo M1 cầm kiếm chém 01 phát vào người anh Đ1, bị cáo T1 đuổi theo hai thanh niên khác, khi quay lại định xông vào đánh thì anh Đ1 xin nên dừng lại, bị cáo H4 là người mang theo 01 kiếm. Do vậy bị cáo M1 và bị cáo T1 chịu mức hình phạt ngang nhau. Bị cáo H4 tính đến ngày phạm tội được16 tuổi 01 ngày nên mức hình phạt thấp nhất trong vụ án.
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- [8] Các bị cáo Nguyễn Thế T, Đỗ Trọng H, Dương Tuấn M1, Lều T, Phạm Thanh T1 và Mạc Nguyễn Tuấn H4 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- [9] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Thế T, Đỗ Trọng H, Dương Tuấn M1, Lều Thành C2, Phạm Thanh T1 và Mạc Nguyễn Tuấn H4 thành khẩn khai báo ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Nguyễn Thế T, Dương Tuấn M1, Mạc Nguyễn Tuấn H4 sau khi phạm tội đã ra tự thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ “người phạm tội tự thú” quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, các bị cáo Đỗ Trọng H, Lều Thành C2, Phạm Thanh T1 sau khi phạm tội đã ra đầu thú; bị cáo Nguyễn Thế T có bố là ông Nguyễn Thế C có thời gian tham gia quân đội và ông ngoại là Nguyễn Minh S được tặng thưởng Huy chương chiến sỹ vẻ vang; bị cáo Mạc Nguyễn Tuấn H4 có ông ngoại là Nguyễn Minh S được tặng thưởng Huy chương chiến sỹ vẻ vang nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- [10] Ngày 02/7/2024 Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã xét xử sơ thẩm đối với các bị cáo Nguyễn Thế T, Đỗ Trọng H, Dương Tuấn M1, Lều T, Phạm Thanh T1 đều về tội Gây rối trật tự công cộng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
- [11] Với những phân tích đã nêu trên, căn cứ vào nhân thân của các bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải buộc các bị cáo Nguyễn Thế T, Đỗ Trọng H, Dương Tuấn M1, Lều T, Phạm Thanh T1 chấp hành hình phạt tù có thời hạn. Tuy nhiên các bị cáo Dương Tuấn M1, Lều T, Phạm Thanh T1, Mạc Nguyễn Tuấn H4 phạm tội khi đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, nên mức hình phạt không quá 3/4 so với mức hình phạt của các bị cáo trên 18 tuổi theo quy định tại khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo Mạc Nguyễn Tuấn H4 có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, nên không cần thiết phải buộc bị cáo phải cách ly khỏi xã hội mà áp dụng biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện đối với bị cáo H4 theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự.
- Về trách nhiệm dân sự:
- [12] Anh Đỗ Minh Đ1 không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về xử lý vật chứng:
- [13] Đối với 01 con dao (dao mèo) phần lưỡi dài 45,3cm, bản rộng nhất 4,7cm; cán bằng gỗ màu đỏ dài 19,5cm; có bao bằng gỗ màu đỏ dài 53,6cm, rộng 6,3cm. Đây là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- [14] Đối với chiếc xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu H9, BKS 15B2-431.41, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận H đã trả lại chiếc xe mô tô cho chủ sở hữu chị Đỗ Thị Thùy D, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- [15] Đối với chiếc xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu Y, BKS 15H1-201.22, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận H đã trả lại chiếc xe mô tô cho chủ sở hữu anh Nguyễn Khắc D2, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- [16] Đối với chiếc xe Airblade màu đen Đỗ Trọng H điều khiển là của chị Đoàn Thị V (mẹ H) mượn của người bạn tên G, chị V đã trả lại chiếc xe này cho G (hiện không xác định được lai lịch) nên không có cơ sở xác minh, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí:
- [17] Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; các bị cáo Đỗ Trọng H và Nguyễn Thế T, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bà Đoàn Thị Đ (đại diện hợp pháp của bị cáo Lều Thành C2) phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm; bà Phạm Thị H3 (đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Thanh T1) phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm; ông Dương Tuấn A (đại diện hợp pháp của bị cáo Dương Tuấn M1) phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm; bà Nguyễn Thị N (đại diện hợp pháp của bị cáo Mạc Nguyễn Tuấn H4) phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Thế T 33 (Ba mươi ba) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/12/2023.
- - Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Đỗ Trọng H 30 (Ba mươi) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/01/2024.
- - Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Lều Thành Công 24 (Hai mươi tư) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 31/01/2024.
- - Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Phạm Thanh T1 21 (Hai mươi mốt) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 31/01/2024.
- - Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s, r khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Dương Tuấn M1 21 (Hai mươi mốt) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 31/01/2024.
- - Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65; Điều 91 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Mạc Nguyễn Tuấn H4 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Gây rối trật tự công cộng. Thời gian thử thách là 36 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Mạc Nguyễn Tuấn H4 cho Ủy ban nhân dân phường C, quận N, thành phố Hải Phòng để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án.
Trong thời gian thử thách, nếu những người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Điều 92 Luật Thi hành án hình sự như sau:
- “1. Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.
- 2. Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
- 3. Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật Thi hành án hình sự.
- 4. Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách..."
- Căn cứ Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo Mạc Nguyễn Tuấn H4.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao (dao mèo) phần lưỡi dài 45,3cm, bản rộng nhất 4,7cm; cán bằng gỗ màu đỏ dài 19,5cm; có bao bằng gỗ màu đỏ dài 53,6cm, rộng 6,3cm.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21 tháng 5 năm 2024 giữa Công an quận H và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An).
- Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc: Các bị cáo Đỗ Trọng H và Nguyễn Thế T, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bà Đoàn Thị Đ (đại diện hợp pháp của bị cáo Lều Thành C2) phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm; bà Phạm Thị H3 (đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Thanh T1) phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm; ông Dương Tuấn A (đại diện hợp pháp của bị cáo Dương Tuấn M1) phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm; bà Nguyễn Thị N (đại diện hợp pháp của bị cáo Mạc Nguyễn Tuấn H4) phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án:
- + Các bị cáo; người đại diện hợp pháp của các bị cáo và người bào chữa cho các bị cáo là người dưới 18 tuổi có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
- + Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 (mười năm) ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hoài |
Bản án số 77/2024/HS-ST ngày 09/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 77/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: H - Gây rối trật tự công cộng
