|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
|
Bản án số:77/2023/HS-ST Ngày:08-11-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Châm Thị Vân Khánh
Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Hồng Hạnh
2. Bà Nguyễn Thị Diễm Hằng
- Thư ký phiên toà: Bà Lô Thị Lệ Hoài- Thư ký Toà án nhân dân huyện Đồng Hỷ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ tham gia phiên toà: Bà Nhữ Như Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 11 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 76/2023/TLST-HS ngày 12/10/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2023/QĐXXST-HS ngày 25/10/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lý Văn N; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh ngày 14/12/1992, nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: xóm L, xã Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Mông; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 05/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; con ông Lý Văn V (đã chết) và bà Lý Thị D; có vợ Hoàng Thị M; có 03 con (Con lớn sinh năm 2016, con nhỏ nhất sinh năm 2021); tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Quang N1 – Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý theo quyết định cử của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. (Có mặt)
-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1.Bà Lý Thị D, sinh năm 1973 (có mặt)
Địa chỉ: xóm L, xã Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên
- Người tham gia tố tụng khác:
+ Người chứng kiến:
Ông Nguyễn Khắc H, sinh năm 1968(vắng mặt)
Địa chỉ: xóm Đ, xã Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 20 phút ngày 04/6/2023, Tổ công tác của Phòng Cảnh sát Phòng chống tội phạm về Môi trường Công an tỉnh T và Đội Cảnh sát Điều tra tội phạm về kinh tế và chức vụ - Công an huyện Đ, tiến hành kiểm tra, kiểm soát trên địa bàn xã Q, huyện Đ phát hiện và bắt quả tang bị cáo Lý Văn N, đang điều khiên xe môtô Honda Wave a, màu xanh đen, biển số 20M7-4375 phía sau xe máy có chở theo 01 bao tải dứa màu cam, bên trong bao tải dứa là 01 lồng bằng kim loại hình chữ nhật, có kích thước: 40 x 20 x 22cm. Bên trong lồng có nhốt 02 cá thể động vật còn sống, lông màu nâu, có đặc điểm giống đặc điểm của loài Cu li. N khai 02 cá thể động vật đó chính là Cu li được N vận chuyển từ nhà riêng tại xóm L, xã Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đến bán cho khách tại cổng nhà máy X. Tổ công tác đã lập biên bản sự việc, tạm giữ 01 (một) xe môtô Honda Wave a, màu xanh đen, biển số 20M7-4375; 01 (một) lồng bằng kim loại hình chữ nhật, có kích thước: 40 x 20 x 22cm, bên trong lồng bằng kim loại có nhốt 02 cá thể động vật còn sống, lông màu nâu, có đặc điểm giống đặc điểm của loài Cu li, tiến hành cân và xác định tổng khối lượng cả lồng kim loại và 02 cá thể động vật nghi là Cu li là: 2,7kg, trong đó khối lượng của lồng kim loại là: 1,6kg, khối lượng của 02 cá thể động vật nghi là Cu li là: 1,1kg; 01 (một) bao tải dứa màu cam, 01 dây cao su dài 3m; 01 (một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Vivo 1906, màu xanh, đã qua sử dụng, gắn sim điện thoại số thuê bao 0355.487.xxx.
Ngày 07/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tiến hành khám xét nơi ở của Lý Văn N, kết quả: Không phát hiện gì, thu giữ 01 chuồng bằng gỗ được quây lưới sắt xung quanh có kích thước 60 x 60 x 60cm tại trước cửa sân nhà của gia đình N.
Tại bản Kết luận giám định động vật số 836/STTNSV ngày 05/6/2023 của V1, kết luận:
- 02 (hai) cá thể động vật gửi giám định là loài Culi lớn có tên khoa học là N2 bengalansis. Loài Cu li lớn thuộc Lớp Thú.
- Loài thú Cu li lớn có tên trong phụ lục I, Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019 của Chính phủ. Loài Cu li lớn có tên trong nhóm IB, danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm ban hành kèm theo Nghị định 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ. Loài Cu li lớn có tên trong phụ lục I, danh mục các loài động vật, thực vật hoang giã thuộc phụ lục Công ước về buôn bán quốc tế các loại động vật, thực vật hoang giã nguy cấp (CITES) ban hành kèm theo Thông báo số 25/TB-CTVN ngày 17/02/2023 của Cơ quan quản lý C1.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo khai nhận: Khoảng tháng 5/2023 khi lên rừng lấy củi Nình nhìn thấy 01 cá thể Cu li tại rừng thuộc xóm S, xã Q, thấy vậy N đã lấy dây thừng và cành củi để bắt con Cu li trên mang về nhà nhốt vào lồng ở trước cửa nhà, sau đó khoảng 1 tuần con Culi này đã đẻ ra một con Cu li con nên N đã nuôi nhốt cả hai con chung một lồng. Ngày 25/5/2023 có hai người nam giới lạ mặt đến nhà N hỏi mua gà, N bán gà cho hai người đó với giá 500.000đ, trong lúc trả tiền một trong hai người đó có hỏi là “có bán con Culi này không” Nình trả lời là “có”, người đó hỏi “bán bao nhiêu tiền” Nình trả lời là 500.000đ, người này khi trả tiền gà cũng đã trả thêm 500.000đ tiền hai con Culi và người đó nói nuôi mấy hôm nữa để về hàn chuồng rồi lên lấy sau. Nình và người này trao đổi số điện thoại với nhau và N đã lưu trong danh bạ là “mua thu rung”. Đến khoảng 08 giờ ngày 04/6/2023 người mua culi gọi điện thoại vào số 0355.487.xxx của N và hẹn đến 13 giờ cùng ngày mang con Cu li xuống cổng nhà máy X cho người đó, N đồng ý. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày N mang 02 con cu li nhốt vào lồng sắt, cho lên xe, chùm bao tải lên buộc vào phía sau xe mô tô BKS 20M7-4375 của mình rồi điều khiển xe một mình chở theo con gái út là cháu Lý Thị O (sinh năm 2021) mang Cu li cho người mua như đã hẹn. Khi N đang đứng chờ thì bị tổ công tác của Phòng Cảnh sát môi trường yêu cầu kiểm tra và lập biên bản sự việc, thu giữ vật chứng như nêu trên.
- Vật chứng của vụ án gồm: 02 (hai) cá thể động vật Culi, còn sống hiện đang được bảo quản tại Trung tâm C2 (Địa chỉ Xã T, huyện S, thành phố Hà Nội).
- 01 (một) xe môtô Honda Wave a, màu xanh đen, biển số 20M7-4375.
- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu ViVo 1906, màu xanh đã qua sử dụng. Niêm phong trong phong bì ký hiệu A1.
- 01 (một) lồng bằng kim loại hình hộp chữ nhật, có kích thước: 40x20x22cm đã qua sử dụng dán tem niêm phong ký hiệu B2.
- 01 (một) bao tải dứa màu cam, 01 dây cao su màu đen dài 3m, niêm phong ký hiệu C.
- 01 (một) chuồng gỗ, được quây bằng lưới sắt, có kích thước 60 x 60 x 60cm
- 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) tiền ngân hàng N3.
Các vật chứng trên hiện đang được bảo quản theo quy định chờ xử lý.
Tại bản cáo trạng số 77/CT-VKSĐH ngày 06/10/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ đã quyết định truy tố Lý Văn N về tội "Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 244 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như lời khai tại cơ quan điều tra và bản cáo trạng mô tả.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ giữ nguyên bản Cáo trạng số 77/CT-VKSĐH ngày 06/10/2023, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lý Văn N phạm tội "Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm";
Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 244, điểm h, m, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự; xử phạt Lý Văn N từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24–30 tháng.
Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.
Về vật chứng: - 02 (hai) cá thể động vật Culi, còn sống hiện đang được bảo quản tại Trung tâm C2 (Địa chỉ Xã T, huyện S, thành phố Hà Nội) cần tiếp tục giao cho Trung tâm C2 xử lý theo quy định của pháp luật.
- 01 (một) xe môtô Honda Wave a, màu xanh đen, biển số 20M7-4375 đã qua sử dụng, cần trả lại cho bị cáo và gia đình quản lý, sử dụng.
-Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: + 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu ViVo 1906, màu xanh đã qua sử dụng của bị cáo Lý Văn N.
+ Số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) tiền ngân hàng N3 là tiền thu lời bất chính.
-Tịch thu, tiêu hủy vật chứng khác.
Trong phần tranh luận, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Người bào chữa của bị cáo trình bày: Thống nhất với đại diện Viện kiểm sát về tội danh và điều luật truy tố bị cáo; Thống nhất với việc đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng các căn cứ pháp luật, các tình tiết giảm nhẹ để xử phạt bị cáo, nhất trí với đề nghị của kiểm sát viên. Đề nghị hội đồng xét xử xem xét trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo N thành khẩn khai báo, bị cáo có nhân thân tốt, có nhận thức pháp luật còn hạn chế, sống ở vùng sâu, vùng xa có điều kiện đặc biệt khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo và đề nghị miễn hình phạt bổ sung và án phí cho bị cáo.
Trong lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất, xin được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
[2] Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa và lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu được và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ xác định: Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 04/6/2023, tại khu vực xóm Đ, xã Q, huyện Đ, Lý Văn N đang có hành vi mang 02 cá thể Culi lớn có tên khoa học là N2 bengalansis. Loài thú Cu li lớn có tên trong phụ lục 1, Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019 của Chính phủ. Loài Cu li lớn có tên trong nhóm IB, danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm ban hành kèm theo Nghị định 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ. Loài Cu li lớn có tên trong phụ lục I, danh mục các loài động vật, thực vật hoang giã thuộc phụ lục Công ước về buôn bán quốc tế các loại động vật, thực vật hoang giã nguy cấp (CITES) ban hành kèm theo thông báo số 25/TB-CTVN ngày 17/02/2023 của cơ quan quản lý C1 bán cho 01 người không quen biết nhưng chưa kịp bán thì bị tổ công tác của Phòng C3, Công an tỉnh T, lập biên bản sự việc, thu giữ vật chứng.
Như vậy, hành vi trên của bị cáo đã phạm vào tội "Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 244 Bộ luật Hình sự.
[3] Bản cáo trạng số 77/CT-VKSĐH ngày 06/10/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ truy tố Lý Văn N về tội "Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 244 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
Nội dung điều luật như sau:
"1. Người nào vi phạm quy định về bảo vệ động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB... thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Săn bắt, giết, nuôi, nhốt, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ”...
[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp quý hiếm, xâm phạm đến quy định của Nhà nước trong việc bảo vệ hệ cân bằng sinh thái và đa dang sinh học của các loài động vật nguy cấp, quý hiếm trong môi trường sinh thái. Đây là vấn đề mà cộng đồng xã hội, đặc biệt là các tổ chức bảo vệ động vật hoang dã quan tâm, tuyên truyền rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng. Do đó, cần phải xử lý hình sự, đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
[5] Đối chiếu với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy bị cáo Lý Văn N trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. 02 cá thể cu ly hiện còn sống và đã được đưa về Trung tâm C2 để xử lý theo quy định, bị cáo là người dân tộc thiểu số, học vấn thấp, sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, lạc hậu, nhận thức pháp luật còn hạn chế, khi bị phát hiện, bị cáo tự nguyện nộp số tiền thu lợi bất chính. Do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, m, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt đối với bị cáo:
[7] Bị cáo Lý Văn N là người lao động thuần nông, trình độ học vấn thấp, sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo, có nơi cư trú ổn định và có nhiều tình tiết giảm nhẹ.
Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát và lời đề nghị của người bào chữa cho bị cáo cũng như lời đề nghị của bị cáo, áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo đối với bị cáo cũng đủ khả năng để bị cáo tự cải tạo và không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội, thể hiện sự khoan hồng, nhân đạo của pháp luật.
[8] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo N là dân tộc thiểu số, bị cáo sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, nghề nghiệp làm ruộng, không có thu nhập, gia đình thuộc hộ nghèo, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[9] Về vật chứng: - Đối với 02 (hai) cá thể động vật Culi, còn sống, hiện đang được gửi tại Trung tâm C2, cần tiếp tục giao cho Trung tâm xử lý theo quy định của pháp luật.
- 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave a, màu xanh đen, biển số 20M7-4375 đã qua sử dụng thu giữ của Lý Văn N. Qua xác minh, xác định đây là tài sản chung của gia đình bị cáo N, khi bị cáo lấy xe đi, thì bà Lý Thị D là mẹ và chị Hoàng Thị M là vợ bị cáo không biết, đây cũng là phương tiện đi lại duy nhất của gia đình nên cần trả lại cho bị cáo và gia đình quản lý, sử dụng.
- Đối với 01 điện thoại di động, nhãn hiệu ViVo 1906, màu xanh đã qua sử dụng của bị cáo Lý Văn N là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
- Đối với số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) tiền ngân hàng N3 là tiền thu lời bất chính cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- Tịch thu, tiêu hủy vật chứng khác.
[10]Về án phí: Bị cáo N là dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, thuộc hộ nghèo nên miễn án phí cho bị cáo.
[11]Về quyền kháng cáo: bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[12]Các vấn đề khác: Đối với Hoàng Thị M là vợ của Lý Văn N, quá trình điều tra xác định chị M biết N mang cá thể Culi về nuôi tại nhà, tuy nhiên, chị M không biết là loài quý hiếm, cũng không tham gia chăm sóc nuôi dưỡng cá thể culi nêu trên cùng bị cáo N, việc N mang C đi bán chị không biết nên hành vi không cấu thành tội phạm.
Đối với bà Lý Thị D (mẹ đẻ của N) không biết N nuôi nhốt culi, không biết N bán C và cũng không chăm sóc cùng với N nên không xem xét xử lý.
Đối với người mua Culi của N, quá trình điều tra số điện thoại không xác định được nhân thân, lai lịch của người này nên không có căn cứ để làm rõ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Lý Văn N phạm tội "Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”.
1. Về hình phạt chính:
1. 1 Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 244, điểm h, m, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự
Xử phạt Lý Văn N 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24(Hai mươi tư) tháng kể từ ngày tuyên án 08/11/2023.
Giao bị cáo Lý Văn N cho UBND xã Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng
3. Về Vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
3.1. Giao cho Trung tâm C2 xử lý theo quy định của pháp luật:
- 02 (hai) cá thể động vật Culi, còn sống.
(Hiện cá thể đang được gửi tại Trung tâm C2, tình trạng theo biên bản giao nhận động vật hoang dã giữa Công an tỉnh T với Trung tâm C2 ngày 05/6/2023).
3.2 - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: + 01 điện thoại di động nhãn hiệu ViVo 1906, màu xanh đã qua sử dụng, Imel 1 có số: 868613041696817; Imel 2 có số: 868613041696809, gắn sim số thuê bao 0355487403 được niêm phong trong phong bì ký hiệu A1.
+ Số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) tiền ngân hàng N3.
3.3 - Trả lại cho bị cáo Lý Văn N: 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave a, màu xanh đen, biển kiểm soát 20M7-4375, số máy HC12E-1411197, số khung: RL HHC12179Y210275, xe có 02 gương chiếu hậu, dung tích 97, xe cũ đã qua sử dụng, không thu giữ đăng ký, xe không có chìa khóa.
3.4 - Tịch thu, tiêu hủy:
- - 01 (một) lồng bằng kim loại hình hộp chữ nhật, có kích thước: 40x20x22cm đã qua sử dụng, được dán tem niêm phong ký hiệu B2.
- - 01 (một) bao tải dứa màu cam, 01 dây cao su màu đen dài 03m, được đưa vào túi niêm phong ký hiệu C.
- - 01 (một) chuồng bằng gỗ, được quây bằng lưới sắt, có kích thước 60 x 60 x 60cm
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đồng Hỷ ngày 06/11/2023, số tiền 500.000đ theo Ủy nhiệm chi số 216 ngày 07/11/2023 giữa Công an huyện Đ và Kho bạc Nhà nước huyện Đ)
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lý Văn N.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
- - TAND tỉnh Thái Nguyên;
- - Sở tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
- - VKSND huyện Đồng Hỷ;
- - Công an huyện Đồng Hỷ;
- - THADS huyện Đồng Hỷ;
- - TT cứu hộ ĐVHG Hà Nội;
- - UBND xã Quang Sơn, huyện Đồng Hỷ;
- - THA phạt tù;
- - Bị cáo, NLQ;
- - Lưu hồ sơ.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Châm Thị Vân Khánh |
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Châm Thị Vân Khánh |
Bản án số 77/2023/HS-ST ngày 08/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự sơ thẩm
- Số bản án: 77/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: N mua bán động vật hoang giã
