|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIẢNG TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
|
Bản án số: 77/2024/HSST Ngày: 07/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIẢNG, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Tố Uyên.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Khanh và ông Nguyễn Trọng Vần
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ánh Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 75/2024/HSST ngày 24 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2024/QĐ-HSST ngày 26 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, đối với bị cáo:
Họ và tên: Ma Lìn P (tên gọi khác: Ma Seo P1), sinh năm 1998; Giới tính: Nam; Nơi sinh và cư trú: Tổ Dân phố N, thị trấn S, huyện S, tỉnh Lào Cai; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: Không. Con ông Ma Seo D, sinh năm 1975 và bà Giàng Thị T, sinh năm 1976; có vợ là Giàng Thị P2, sinh năm 2003; bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2022; gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 08/5/2024 tại Trại tạm giam Công an tỉnh H.
* Người bào chữa cho bị cáo P1: Bà Nguyễn Thị L – Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H, có gửi bài phát biểu và xin được vắng mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Ông Phạm Văn B, sinh năm 1952. Người đại diện theo uỷ quyền của bị hại: Anh Phạm Văn T1, sinh năm 1976. Đều đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn A, xã Đ, huyện C, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt và có đơn xin vắng mặt.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Văn T1, sinh năm 1976. Địa chỉ: Thôn A, xã Đ, huyện C, tỉnh Hải Dương, có mặt tại phiên tòa. Vắng mặt và có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ma Lìn P (tên gọi khác là Ma Seo P1) có giấy phép lái xe môtô theo quy định. Ngày 18/12/2023, P1 điều khiển xe môtô BKS 24B2 - 679.52 đi trên đường đê xã Đ, huyện C, tỉnh Hải Dương ra Cầu B, khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến đường liên thôn thuộc địa phận thôn A, xã Đ, là khu vực có đường giao nhau, P1 phát hiện thấy ông Phạm Văn B, sinh năm 1952, ở thôn A, xã Đ, điều khiển xe môtô BKS 34M4- 1416 đi ngược chiều phía trước, đang chuyển hướng rẽ trái vào đường T nhưng P1 không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn nên phần đầu bên trái xe môtô do P1 điều khiển đã va chạm vào phần thân xe môtô bên phải của ông B. Hậu quả làm ông B bị thương, phải điều trị tại Bệnh viện H từ ngày 18/12/2023 đến ngày 24/12/2023, tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông B là 68%; 02 xe môtô bị hư hỏng.
* Kết luận giám định tổn thương cơ thể số 42/KLTTCT ngày 05/02/2024 của Trung tâm G, kết luận:
- Ông B bị chấn thương sọ, mặt gây tụ máu ngoài màng cứng, dưới màng cứng, vỡ xương trán lệch trái, vỡ các thành ổ mắt hai bên, vỡ các thành xoang hàm hai bên, vỡ các thành xoang sàng hai bên, vỡ cánh lớn xương bướm hai bên, vỡ mỏm chân bướm trong và ngoài hai bên, gãy cung tiếp gò má hai bên, gãy xương chính mũi, được điều trị nội khoa về sọ não, phẫu thuật xử lý xương hàm mặt. Hiện ổn định;
- Chấn thương gây bong điểm bám dây chằng chéo sau gối phải, đụng dập nhãn cầu, tụ máu da mi, xuất huyết kết mạc hai mắt. Hiện ổn định không phát hiện dấu vết tổn thương, di chứng;
- 03 sẹo vết thương phần mềm vùng mặt ở trán trái, đầu ngoài cung lông mày trái, môi trên bên trái kích thước nhỏ;
Tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông Phạm Văn B tại thời điểm giám định là 68%. Các tổn thương trên có đặc điểm do vật tày gây ra.
Ngày 01/3/2024 Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện C đã chuyển hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C để giải quyết theo thẩm quyền.
* Khám nghiệm hiện trường nơi xảy ra tai nạn xác định: Nơi xảy ra tai nạn là đường liên thôn khu vực giao nhau thuộc địa phận thôn A, xã Đ, huyện C, đường hai chiều, không có vạch sơn kẻ đường, mặt đường rộng 5,8m, được trải bê tông nhẵn phẳng, theo chiều đê Đ – Cầu Bông bên phải là lối mở rộng 10,25m đi vào đường T. Lấy mép đường bên phải, cuối lối mở theo chiều đê Đ - cầu B làm chuẩn. Hiện trường cụ thể: Cách cuối lối mở vào thôn A (trước cửa nhà ông bà Điều, T2) về hướng đê Đức Chính 2,3m và cách mép đường bên phải (mép đường chuẩn) 1,68m tại nơi đường giao nhau, trên mặt đường bê tông là điểm đầu của vết cà xước mặt đường đứt quãng, có kích thước (1,4 x 0,63)m, vết cà xước có hướng kéo dài về phía cầu B và kết thúc tại vị trí xe môtô BKS 34M4- 1416 bị đổ nghiêng trái, đầu xe hướng vào mép đường chuẩn, đuôi xe hướng về mép đường bên trái; trục trước và trục sau của xe cách mép đường chuẩn lần lượt là 0,95m và 1,95m. Cách điểm đầu của vết cà xước đứt quãng mặt đường về phía cầu B 0,18m và cách mép đường chuẩn 1,15m trên mặt đường bê tông, xi măng là điểm đầu của vết xiết lốp mặt đường và vết cà xước đứt quãng mặt đường có kích thước (1,25 x 0,1)m; vết xiết lốp và vết cà xước mặt đường có hướng kéo dài về phía cầu B, chếch về mép đường chuẩn và kết thúc tại vị trí lốp trước xe môtô BKS 24B2-679.52, xe này bị đổ nghiêng trái. Phần yếm, khu vực để chân bên trái của người điều khiển đè lên phần động cơ, khu vực để chân, chân phanh bên phải của xe môtô BKS 34M4-1416, đầu xe hướng vào mép đường chuẩn hơi chếch về phía cầu B, đuôi xe hướng về mép đường bên trái hơi chếch về phía đê Đ, trục trước và trục sau của xe cách mép đường chuẩn lần lượt là 0,85m và 1,82m. Cách trục trước của xe môtô BKS 34M4- 1416 về phía cầu B 1,5m và cách mép đường bên phải 2,4m trên mặt đường bê tông xi măng là tâm của vùng máu loang có kích thước (0,5x 0,3)m. Cách trục trước của xe môtô BKS 34M4- 1416 về phía cầu B 0,9m và cách mép đường chuẩn 0,5m trên vỉa hè là tâm của vùng nhựa vỡ có kích thước.
* Khám xe môtô BKS 34M4-1416 liên quan đến tai nạn xác định: Phần yếm bên phải bị rách vỡ rời ra khỏi xe, có kích thước (30 x 60)cm, điểm thấp nhất cách đất 20 cm điểm cao nhất cách đất 80 cm; Phần ốp giảm sóc bên phải bị vỡ nhựa, nhựa ốp chắn bùn sau khu vực càng giảm sóc bị vỡ, có kích thước (15x 20) cm điểm thấp nhất cách đất 46 cm, điểm cao nhất cách đất 70cm. Giá để chân bên phải người điều khiển bị đẩy ép sát vào thân động cơ, hướng từ phải qua trái, từ ngoài vào trong, phần cao su bị đẩy vào trong lộ lõi thép.
* Khám xe môtô BKS 24B2-679.52 liên quan đến tai nạn xác định: Miệng vành trước bên trái bị vỡ có kích thước (20 x 2,5)cm, điểm gần nhất cách chân van 34 cm ngược chiều kim đồng hồ, lốp trước hết hơi; Mặt trên chắn bùn trước, phía trước bị nút có kích thước (5,5x 0,01)cm. Điểm thấp nhất cách đất 14cm, điểm cao nhất cách đất 46cm, điểm gần nhất cách đầu mỏm chắn bùn về sau 7cm; Cánh yếm bên phải bị vỡ rời ra khỏi xe, có kích thước (37x 30) cm, điểm thấp nhất cách đất 35cm, cao nhất cách đất 66cm; Mặt ngoài đèn pha bên phải có vết trầy xước nhựa, bề mặt dính bám mùn cao su, có kích thước (8x 2,5)cm, điểm thấp nhất cách đất 64,5cm, điểm cao nhất cách đất 67 cm, điểm gần nhất là cạnh đèn pha bên phải; Cánh yếm bên trái bị vỡ rời ra khỏi xe, vùng nhựa cốp đèn pha bên phải phía dưới, phía trước bị gãy vỏ, có kích thước (15x 10)cm, điểm thấp nhất cách đất 60 cm, điểm cao nhất cách đất 70cm; Phần nhựa ốp phía trước đầu xe, khu vực hệ thống tay phanh bên phải bị gẫy nhựa, có kích thước (1 x 1) cm, điểm thấp nhất cách đất 103 cm, điểm cao nhất cách đất 104cm.
- Kết luận định giá tài sản số 03/KL- HÐÐG- TTHS ngày 29/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện C, kết luận: Phần thiệt hại của xe môtô BKS 24B2-679.52, tổng giá trị thiệt hại là 2.296.400₫.
- Kết luận định giá tài sản số 25/KL- HĐĐG- TTHS ngày 03/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện C, kết luận: Phần thiệt hại của xe môtô BKS 34M4-1416, tổng giá trị thiệt hại là 1.170.000đ.
Ngày 30/01/2024 Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện C đã trả lại cho Ma Lìn Pao xe môtô BKS 24B2 - 679.52, giấy chứng nhận đăng ký xe môtô BKS 24B2-679.52, giấy phép lái xe mang tên Ma Seo P1; trả lại cho ông B xe môtô BKS 34M4- 1416, giấy chứng nhận đăng ký xe môtô BKS 34M4-1416, giấy phép lái xe mang tên Phạm Văn B.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho ông B số tiền 1.000.000 đồng, ông B yêu cầu bị cáo P1 bồi thường số tiền 17.702.426 đồng chi phí điều trị thương tích. Ông B và anh T1 không yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí sửa chữa xe và ngày công lao động bị thiệt hại.
Tại bản cáo trạng số 75/CT-VKS ngày 24/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Ma Lìn P (tên gọi khác: Ma Seo P1) về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Quá trình Tòa án chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử, ông Ma Văn D1 và anh Ma Seo V được bị cáo nhờ thay mặt bị cáo P1 tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường cho bị hại tổng số tiền 25.000.000₫ (Hai mươi lăm triệu đồng), bao gồm khoản tiền chi phí cứu chữa, điều trị thương tích; tiền mua thuốc, tiền bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe sau khi ra viện, thu nhập thực tế bị mất của bị hại và người chăm sóc bị hại và các khoản chi phí hợp lý mà hai bên đã tự thỏa thuận. (không kể số tiền sau khi xảy ra vụ tai nạn bị cáo P1 đã tự nguyện bồi thường cho ông B 1.000.000₫).
Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thừa nhận Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương truy tố về tội danh và điều luật nêu trên là đúng, bản thân đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình, chủ động tác động nhờ gia đình khắc phục hậu quả, tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại tổng số tiền 25.000.000đ nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình cho bị cáo được cải tại địa phương để có cơ hội sửa chữa sai phạm. Người đại diện theo ủy quyền của bị hại là anh Phạm Văn T1 xác nhận đã nhận đủ số tiền của bị cáo bồi thường, có đơn đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được cải tạo tại địa phương; đồng thời xin được vắng mặt tại phiên tòa. Ngoài ra không ai có yêu cầu gì khác.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương giữ nguyên quan điểm truy tố, hành vi của bị cáo Ma Lìn P (tên gọi khác: Ma Seo P1). Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Ma Lìn P phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ". Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 của Bộ luật hình sự; khoản 3 Điều 328 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Xử phạt bị cáo Ma Lìn P từ 14 (M) đến 17 (Mười bẩy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 28 (Hai mươi tám) đến 30 (Ba mươi) tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo P cho Ủy ban nhân dân thị trấn S, huyện S, tỉnh Lào Cai quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo có thay đổi nơi cư trú áp dụng quy định của Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Nếu cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Gia đình của người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo; đề nghị HĐXX trả tự do ngay tại phiên toà cho bị cáo, nếu bị cáo không bị giam hoặc tạm giam về một tội phạm khác; Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng; Về trách nhiệm dân sự: Hai bên đã thỏa thuận, giải quyết xong nên không đặt ra giải quyết; Về vật chứng: Không phải giải quyết; Về án phí: Miễn án phí cho bị cáo theo qui định tại điểm đ khoảm 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo (bà Nguyễn Thị L gửi bài phát biểu): Xác định bị cáo Ma Lìn P (tên gọi khác: Ma Seo P1) bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng truy tố về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo qui định tại điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự là có cơ sở pháp lý, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường tai nạn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Nguyên nhân dẫn đến bị cáo phạm tội là do không làm chủ tốc độ, chú ý quan sát, không giảm tốc độ đảm bảo an toàn cho các phương tiện cùng tham gia giao thông. Tuy nhiên, bị hại khi tham gia giao thông nhưng không đội mũ bảo hiểm, không chú ý quan sát khi chuyển hướng rẽ trái nên dẫn đến va chạm với xe mô tô do bị cáo điều khiển. Quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình và đã tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại cho bị hại; đề nghị HĐXX xem xét đến nhận thức của bị cáo, nguyên nhân, điều kiện hoàn cảnh của bị cáo là dân tộc thiểu số, chỉ được học hết lớp 9 nên đề nghị HĐXX xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất thể hiện sự nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo, có cơ hội sớm trở về với gia đình và xã hội; Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị HĐXX giải quyết theo qui định của pháp luật; Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng; đồng thời đề nghị miễn án phí cho bị cáo P1. Ngoài ra không có đề nghị gì khác.
Bị cáo nói lời sau cùng, bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, đã nhận thức được hành vi do mình gây ra là vi phạm pháp luật, rất ân hận nên bị cáo đã tác động nhờ gia đình khắc phục hậu quả, tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại đầy đủ nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến điều kiện hoàn cảnh gia đình khó khăn cho bị cáo được về cải tạo tại địa phương để có cơ hội sửa chữa sai lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, tỉnh Hải Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định bị cáo có tội: Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn, kết luận giám định, lời khai người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 18/12/2023, tại đường liên thôn khu vực giao nhau thuộc địa phận thôn A, xã Đ, huyện C, tỉnh Hải Dương, Ma Lìn P điều khiển xe môtô BKS 24B2 - 679.52 đi hướng đê Đ - Cầu B, do không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn và không chú ý quan sát nên đã va chạm với xe môtô BKS 34M4- 1416 do ông Phạm Văn B điều khiển hướng ngược chiều, đang chuyển hướng rẽ trái vào đường thôn A, hậu quả làm ông B bị thương, phải điều trị tại Bệnh viện H từ ngày 18/12/2023 đến ngày 24/12/2023, tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông B là 68%; 02 xe môtô bị hư hỏng nhẹ. Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng trong lĩnh vực giao thông đường bộ, gây thiệt hại đến sức khoẻ và tài sản được pháp luật bảo vệ. Hành vi đó đã vi phạm khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường, bản thân bị cáo đã được học và cấp giấy phép lái xe, hoàn toàn nhận thức được và biết khi tham gia giao thông phải đảm bảo, đi đúng phần đường, làm chủ được tốc độ để có thể xử lý được mọi tình huống xảy ra nhưng bị cáo chủ quan đã vi phạm pháp luật nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” qui định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo về tội danh và điều luật trên là hoàn toàn chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (được viết tắt là TNHS) của bị cáo thì thấy: Về tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS; Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải; bản thân đã khắc phục hậu quả, tự nguyện bồi thường cho bị hại tổng số tiền là 25.000.000₫ (không kể số tiền sau khi xảy ra vụ tai nạn bị cáo P1 đã tự nguyện bồi thường cho ông B 1.000.000₫). Người đại diện theo ủy quyền của bị hại là anh Phạm Văn T1 xác nhận đã nhận đủ số tiền của bị cáo và có đơn đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được cải tạo tại địa phương. Do vậy, cần xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được qui định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo.
[4] Về hình phạt chính: Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ TNHS của bị cáo thì thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Mặt khác, trong vụ án này bị hại là ông Phạm Văn B điều khiển xe môtô tham gia giao thông nhưng không đội mũ bảo hiểm, không chú ý quan sát khi chuyển hướng rẽ trái nên xác định nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn là có một phần lỗi của bị hại. Do vậy, HĐXX nhận thấy không cần thiết bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, cho bị cáo được hưởng mức án có điều kiện dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương và gia đình nơi bị cáo cư trú cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo thành công dân tốt, biết tôn trọng và chấp hành pháp luật.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét tính chất mức độ của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung cấm hành nghề lái xe mô tô đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình Tòa án chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử, ông Ma Văn D1 và anh Ma Seo V được bị cáo nhờ thay mặt bị cáo khắc phục hậu quả, tự nguyện bồi thường cho bị hại (theo hai bên thống nhất tự thỏa thuận), tổng số tiền 25.000.000₫ (Hai mươi lăm triệu đồng), bao gồm các khoản tiền chi phí cứu chữa, điều trị thương tích, tiền mua thuốc, tiền bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe sau khi ra viện, thu nhập thực tế bị mất của bị hại, người chăm sóc bị hại và các khoản chi phí hợp lý mà hai bên đã tự thỏa thuận. (không kể số tiền sau khi xảy ra vụ tai nạn bị cáo P1 đã tự nguyện bồi thường cho ông B 1.000.000đ). Anh Phạm Văn T1 là người đại diện theo ủy quyền của bị hại xác nhận đã nhận đủ số tiền của bị cáo và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm bất cứ khoản nào khác. Do vậy, xác định hai bên đã tự thỏa thuận giải quyết xong nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[7] Về Vật chứng: Đối với chiếc xe môtô BKS 24B2 - 679.52, giấy chứng nhận đăng ký xe môtô BKS 24B2 - 679.52, giấy phép lái xe mang tên Ma Seo P1 và chiếc xe môtô BKS 34M4- 1416, giấy chứng nhận đăng ký xe môtô BKS 34M4- 1416, giấy phép lái xe mang tên Phạm Văn B. Ngày 30/01/2024 Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện C đã trả lại cho chủ sở hữu tài sản là Ma Lìn Pao nhận và ông B theo qui định của pháp luật nên không phải giải quyết.
[8] Về án phí: Bị cáo bị kết án nhưng bị cáo thuộc trường hợp được miễn án phí theo qui định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội nên bị cáo không phải nộp.
[9] Những vấn đề khác:
- Đối với ông Phạm Văn B điều khiển xe môtô tham gia giao thông nhưng không đội mũ bảo hiểm, không chú ý quan sát khi chuyển hướng, không làm thủ tục đăng ký sang tên xe theo quy định, Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã chuyển hồ sơ cho Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện C để xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.
- Anh Phạm Văn T1 là con trai của ông B đã phải xin nghỉ việc tại Công ty để chăm sóc nuôi dưỡng ông B từ ngày 18/12/2023 đến ngày 24/12/2023 tại Bệnh viện H. Mặc dù, anh bị mất thu nhập trong những ngày nêu trên nhưng tại giai đoạn điều tra anh tự nguyện không yêu cầu bị cáo phải trả anh khoản tiền mất thu nhập đó. Tuy nhiên, quá trình Tòa án chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử anh cùng bị cáo thống nhất thỏa thuận đã xong nên anh không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết gì khác.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự; khoản 3 Điều 328; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
1. Tuyên bố: Bị cáo Ma Lìn P (tên gọi khác là Ma Seo P1) phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt: Bị cáo Ma Lìn P (tên gọi khác là Ma Seo P1) 15 (Mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo P1 cho Ủy ban nhân dân thị trấn S, huyện S, tỉnh Lào Cai trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo có thay đổi nơi cư trú áp dụng quy định của Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Nếu cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Gia đình của người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trả tự do ngay tại phiên toà cho bị cáo, nếu bị cáo không bị giam hoặc tạm giam về một tội phạm khác.
4. Về án phí: Bị cáo thuộc trường hợp được miễn án phí nên không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo Ma Lìn P có mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (07/8/2024). Bị hại vắng mặt tại phiên tòa nên có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (anh T1) vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần liên quan của bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trương Thị Tố Uyên |
Bản án số 77/2024/HSST ngày 07/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIẢNG, TỈNH HẢI DƯƠNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 77/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIẢNG, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ma Lìn P - Vi phạm quy định về Giao thông đường bộ
