Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN KIẾN AN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2023/HS-ST

Ngày 06-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Cao Đặng Trình.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lã Anh Tuấn

Bà Hoàng Thị Chính

- Thư ký phiên toà: Bà Mai Thị Thanh Huyền, Thư ký Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Mai Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 77/2023/TLST-HS ngày 21/11/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 347/2023/QĐXXST-HS ngày 23/11/2023 đối với bị cáo:

Trần Đức A, sinh ngày 24/6/1993, tại Bắc Giang, nơi thường trú: Tổ dân phố K, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đình M và bà Nguyễn Thị O; có vợ là Nguyễn Thị Ánh T và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị C đình chỉ nơi cư trú, có mặt.

- Bị hại: Ông Trần Thành D, sinh năm: 1966, nơi cư trú: tổ C phường T, quận K, Hải Phòng, (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Anh Trần Cao C1, sinh năm 1992 (con ông D); nơi cư trú: Số C, phố H, tổ C phường T, quận K, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Công ty TNHH K (Công ty K); địa chỉ: Đ, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Văn T1, Giám đốc Công ty, có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Đức A có giấy phép lái xe ô tô hạng FC, là lái xe thuê cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn K (sau đây gọi là Công ty K). Sáng ngày 14/4/2023, theo điều động của công ty, Đức A điều khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 98C-09906, kéo sơ mi rơ moóc biển kiểm soát 98R-00212 chở hàng đến địa bàn quận K, Hải Phòng. Khoảng 10 giờ cùng ngày, Đức A điều khiển xe ô tô đi từ đường P vào khu vực ngã tư C thuộc phường T, quận K, Hải Phòng. Cùng lúc này, ông Trần Thành D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, biển kiểm soát 16M7-4086 di chuyển cùng chiều với xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 98C-09906 đi vào khu vực ngã tư C. Khi đi qua vạch kẻ đường dành cho người đi bộ thì ông D điều khiển xe mô tô đi cùng chiều phía trước bên trái đầu xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 98C-09906. Lúc này, do Đức A không chú ý quan sát và không giữ khoảng cách an toàn với xe mô tô biển kiểm soát 16M7-4086, nên phần đầu xe ô tô đầu kéo phía bên trái đã va chạm với phía sau xe mô tô biển kiểm soát 16M7-4086, khiến ông D bị ngã xuống mặt đường và bị hệ thống bánh xe bên trái (bên lái) của xe ô tô đầu kéo 98C-09906 và sơ mi rơ mooc tải biển kiểm soát 98R-00212 chèn qua người. Hậu quả, ông D bị chết tại chỗ.

Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: Hiện trường của đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là ngã tư C đoạn thuộc địa phận phường T, quận K, thành phố Hải Phòng, mặt đường trải nhựa asphalt. Ngã tư là nơi giao nhau giữa đường Hđường P. Hướng Bắc đi cầu K, hướng nam đi Ngã 5 K, hướng đông đi ngã tư hiệu sách, hướng tây đi huyện A. Lấy cột điện ở vỉa hè trước số G đường H là mốc cố định. Lấy mép vạch kẻ đường (mép gần nhất) dành cho người đi bộ hướng bắc làm mép đường chuẩn.

Xe ô tô đầu kéo mang biển kiểm soát 98C-099.06 đỗ ở khu vực giữa ngã tư. Đầu xe hướng về cầu K, đuôi xe hướng về đường P. Trục bánh xe đầu tiên (tính từ trên xuống) bên lái cách mốc cố định 16,5m, cách mép vạch kẻ đường chuẩn 15,5m. Trục bánh xe cuối cùng (tính từ trên xuống) bên lái cách mốc cố định 24,5m, cách mép đường chuẩn 30,2m.

Ông Trần Thành D nằm nghiêng bên phải, đầu nằm trong gầm xe ô tô hướng về phía đông, chân hướng về phía tây. Đầu ông D cách mốc cố định 19,1m, cách mép đường chuẩn 21,6m, cách trục bánh sau xe mô tô 2,1m, gót chân cách mốc cố định 17,9m, cách mép đường chuẩn 20,7m, cách trục bánh sau xe mô tô 2,5m.

Xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade mang biển kiểm soát 16M7-4086 đổ nghiêng về bên trái, đầu xe hướng về phía tây nam, đuôi xe hướng về phía đông bắc. Trục bánh trước cách mốc 18,7m, cách vạch kẻ đường chuẩn 24m. Trục bánh sau cách mốc cố định 19,2m, cách mép đường chuẩn 18,7m.

Dấu vết mài lốp phía sau bánh xe thứ 3 xe ô tô (tính từ trên xuống) dài 2,1m, rộng 0,23m. Đầu vết mài lốp cách mép đường chuẩn 23,5m. Vết cày dài 0,9m, rộng 0,02m. Đầu vết cày cách mốc cố định 22,1m, cách mép đường chuẩn 27m, cách trục bánh sau của xe mô tô 3,7m. Vết phanh ở đuôi romooc phía bên lái dài 2,8m, rộng 0,46m; có 02 vết phanh, vết ngoài rộng 0,15m, vết trong rộng 0,11m. Điểm cuối vết phanh cách mốc cố định 26,8m. Vết phanh ở đuôi romooc phía bên phụ, dài 2,8m, rộng 0,5m; Vết phanh gồm 02 vết, vết ngoài rộng 0,12m, vết trong rộng 0,11m.

Khám xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 98C-09906 kéo sơ mi rơ mooc biển kiểm soát 98R-00212 có các dấu vết: Mặt ngoài ốp nhựa phía ngoài (sát phía trên cản trước), bên trái có dấu vết vỡ nứt nhựa theo chiều từ trước về sau, bề mặt trượt xước mất sơn màu xanh, màu đen, bám dính tạp chất màu đỏ (dạng nhựa, sơn) kích thước trong diện (11x9)cm, tâm vết cách đất 77cm. Cạnh trên phía bên trái (bên lái) có dấu vết trượt xước mất sơn màu xanh, kích thước trong diện (4x2,5)cm, tâm vết cách đất 69cm. Cạnh ngoài (phần tiếp giáp giữa mặt lăn và má lốp) bánh ngoài cùng hàng bánh lốp thứ 3 bên trái (bên lái) tính từ trước về sau có dấu vết bám dính màu nâu nghi tổ chức cơ thể người – máu), phía trên hàng ký tự “12.00 R20”, kích thước trong diện (31x4)cm.

Khám xe mô tô biển kiểm soát 16M7-4086 có các dấu vết: Ốp mặt nạ vỡ bung bật rời khỏi vị trí lắp ráp ban đầu. Ốp nhựa phía trong cụm pha đèn phía trước, đèn tín hiệu phía trước bên phải bị vỡ nứt, kích thước trong diện (26x17)cm. Gương chiếu hậu bên trái bị xô lệch, phần mặt gương bị vỡ mất không còn. Cạnh trước bên phải hộp dầu phanh có dấu vết mài bẹt kim loại, kích thước trong diện (10x0,3)cm. Mặt ngoài núm kim loại tay phanh bên phải có dấu vết mài trượt xước kim loại kích thước (1x1,2)cm. Cạnh ngoài yếm chắn gió bên trái có dấu vết mài trượt xước nhựa, xước kim loại, kích thước (23,5x12)cm. Cạnh ngoài bàn để chân phía trước bên trái có dấu vết mài trượt xước nhựa, kích thước (19x4,5)cm. Cạnh ngoài giá đỡ bàn để chân phía sau bên trái có dấu vết mài trượt xước kim loại kích thước (3x4,3)cm. Cụm đèn hậu, đèn tín hiệu phía sau bị vỡ mất không còn. Ốp nẹp sườn xe phía sau bên trái bị vỡ, bung bật khỏi vị trí ban đầu. Cạnh ngoài cần gạt chân chống giữa có dấu vết mài trượt xước kim loại, kích thước (3x0,5)cm. Mặt ngoài bên trái, phía dưới tay dắt phía sau có dấu vết trượt xước mất sơn màu đen, bám dính tạp chất màu nâu (dạng bụi đất) kích thước (16x4)cm. Cạnh ngoài bên phải tay dắt phía sau có dấu vết trượt xước kim loại, bám dính tạp chất màu trắng, màu đen (dạng bột đá, nhựa đường) kích thước (18x0,9)cm. Mặt ngoài ốp kim loại bảo vệ ống xả có dấu vết trượt xước kim loại, kích thước (32x5)cm. Cạnh trước dưới đầu ống xả có dấu vết mài trượt xước kim loại, bám dính tạp chất màu trắng (dạng bột đá) kích thước (4x2,5)cm (bút lục 68-69).

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra tiến hành thu giữ 01 USB chứa hình ảnh Video tại số nhà G H, quận K, Hải Phòng liên quan đến vụ tai nạn và C2 hành trình của xe ô tô biển kiểm soát 98C-09906 kéo sơ mi rơ moóc biển kiểm soát 98R-00212 (bút lục 144-150).

Tại bản kết luận giám định số 101/KL-KTHS(CH) ngày 06/5/2023 của Phòng K1 Công an thành phố H, kết luận:

Dấu vết vỡ, nứt nhựa theo chiều từ trước về sau, bề mặt phía ngoài bị bong tróc, trượt xước mất sơn (màu xanh), lộ nhựa màu đen phía trong, bám dính tạp chất màu đỏ (dạng nhựa) ở mặt ngoài góc dưới bên trái (bên lái) ốp cản trước xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 98C-09906, kéo sơ mi rơ mooc biển kiểm soát 98R-00212 phù hợp với dấu vết bung bật, vỡ khuyết nhựa (màu đen và màu đỏ) chiều từ sau về trước ở cụm đèn hậu, đèn tín hiệu phía sau xe mô tô biển kiểm soát 16M7-4086.

Không đủ căn cứ để xác định tốc độ của xe ô tô đầu kéo mang biển kiểm soát 98C-09906 kéo sơ mi rơ mooc mang biển kiểm soát 98R-00212 và xe mô tô biển kiểm soát 16M7-4086 tại thời điểm xảy ra tai nạn.

Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 72/2023/KLGĐTT-TTPYHP ngày 19/4/2023 của Trung tâm P, kết luận: Nạn nhân Trần Thành D chết vì đa chấn thương: chấn thương sọ não, hàm mặt và chấn thương ngực nặng.

Kết quả xét nghiệm nước tiểu và nồng độ cồn trong máu của Bệnh viện K2 thể hiện: Tại thời điểm lấy mẫu vào hồi 11 giờ 54 phút ngày 14/4/2023, trong cơ thể Trần Đức A không có ma túy Marijuana (THC), A1, M1, M2 và không có nồng độ cồn.

Tại Cơ quan điều tra Trần Đức A khai nhận phù hợp nội dung trên. Khi Đức A điều khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 98C-09906 đi từ đường P vào khu vực ngã tư C, do Đức A không chú ý quan sát hệ thống gương cầu lồi phía trước đầu xe nên không quan sát thấy người đàn ông điều khiển xe mô tô đang đi phía trước đầu xe ô tô do Đức A điều khiển. Sau khi được xem camera hành trình do Công ty trích xuất, Đức A thấy người đàn ông này trước khi tai nạn đang điều khiển xe mô tô di chuyển phía trước sát đầu xe khiến Đức A không quan sát được qua kính lái.

Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra, xác định khả năng quan sát, tầm nhìn của người điều khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 98C-09906. Kết quả xác định khi ngồi tại vị trí ghế lái xe 98C-09906, thông qua kính lái phía trước và gương cầu lồi lắp bên phải phía trước đầu xe, Trần Đức A có thể quan sát toàn bộ người và phương tiện di chuyển phía trước xe 98C-09906, không có khu vực nào trước đầu xe ô tô bị che khuất không thể quan sát. Kết quả kiểm tra phù hợp với lời khai của Trần Đức A.

Bản Cáo trạng số 83/CT-VKSKA ngày 21/11/2023, Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An đã truy tố Trần Đức A về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, kết quả khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định pháp y về tử thi; kết quả khám nghiệm, kết luận giám định xe ô tô, xe mô tô và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Do đó, Viện Kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với Trần Đức A về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Đức A thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hai số tiền 300.000.000 đồng. Đại diện bị hại không yêu cầu bồi thường thêm và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt Trần Đức A từ 18 tháng đến 24 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và ấn định thời gian thử thách.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và Công ty K đã tự thỏa thuận bồi thường cho bị hại số tiền 300.000.000 đồng, bị hại không yêu cầu bồi thường thêm. Bị cáo và Công ty K không yêu cầu Tòa án giải quyết về số tiền nêu trên. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về vật chứng trong vụ án: Đã xử lý trong giai đoạn điều tra.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, đại diện người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Đức A phù hợp với lời khai của người làm chứng, kết quả khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, kết luận giám định pháp y về tử thi; phù hợp với kết quả khám nghiệm, giám định xe mô tô, xe mô tô tai nạn và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 10 giờ ngày 14/4/2023, tại ngã tư C, phường T, quận K, thành phố Hải Phòng. Trần Đức A điều khiển xe ô tô Biển kiểm soát 98C-09906, kéo sơ mi rơ mooc biển kiểm soát 98R-00212 đã không chú ý quan sát và không giữ khoảng cách an toàn, vi phạm điểm a khoản 7 Điều 5 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP của Chính Phủ; khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ dẫn đến và chạm với xe mô tô biển kiểm soát 16M7-4086 do ông Trần Thành D điều khiển phía trước bên trái đầu xe ô tô làm ông Trần Thành D ngã xuống mặt đường, bị bánh xe ô tô đầu kéo 98C-09906 và sơ mi rơ mooc tải biển kiểm soát 98R-00212 chèn qua người. Hậu quả, làm cho ông Trần Thành D tử vong tại chỗ. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Như vậy, Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An đã truy tố Trần Đức A ra trước Toà án nhân dân quận Kiến An để xét xử về tội danh, theo điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Tuy không cố ý về hậu quả nhưng hành vi của bị cáo đã xâm phạm vào những quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ, đã xâm phạm đến sức khỏe của công dân. Sự mất an toàn này đã làm ảnh hưởng đến những nhu cầu cần thiết và những tiền đề quan trọng cho việc xây dựng một xã hội văn minh. Vì vậy, pháp luật yêu cầu phải xử lý nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo và đáp ứng yêu cầu phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có nhân thân tốt, thể hiện bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo nhất thời phạm tội do vô ý, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 300.000.000 đồng, đại diện bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Vì vậy, cần cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm một phần hình phạt cho bị cáo. Hội đồng xét xử thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có việc làm ổn định, có thể tự cải tạo dưới sự giám sát của các tổ chức chính trị-xã hội và chính quyền địa phương. Do đó, cần xem xét chiếu cố, khoan hồng áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được cải tạo ở ngoài xã hội. Đây cũng là quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An tại phiên tòa.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và Công ty K đã tự thỏa thuận bồi thường cho bị hại số tiền 300.000.000 đồng. Gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường gì khác, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7] Về vật chứng trong vụ án: Đã xử lý trong giai đoạn điều tra là phù hợp.

[8] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Trần Đức A 18 (Mười tám) tháng tù, về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án này.

Hủy Lệnh cấm đi khởi nơi cư trú số135/HSST-LCĐKNCT ngày 21/11/2023 của Tòa án nhân dân quận Kiến An, Hải Phòng đối với bị cáo Trần Đức A.

Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án; Trần Đức A phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đại diện bị hại; đại diện người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo liên quan đến quyền lợi của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; đại diện bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ
  • liên quan đến vụ án;
  • - VKSND quận Kiến An;
  • - TAND TP.Hải Phòng;
  • - VKSND TP.Hải Phòng;
  • - Công an quận Kiến An;
  • - Chi cục THA dân sự Q.Kiến An;
  • - Lưu: Hồ sơ, VT, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Đặng Trình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 77/2023/HS-ST ngày 06/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 77/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: có tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger