Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MANG THÍT

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2023/HS-ST

Ngày 06-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Bích

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Phẩm

Ông Dương Sinh Huy

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Kim Liên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 11 năm 2023 tại Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 69/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2023/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Tấn T, sinh năm 1988 tại huyện V, tỉnh Vĩnh Long. Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ (chết) và bà Nguyễn Thị Ngọc Đ1; có vợ Trần Hồng T1 (đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2013; có 02 anh em ruột (lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2003); tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: chưa có án tích, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật đã được xóa; bị bắt tạm giam từ ngày 22/7/2023 cho đến nay; hiện bị cáo đang bị tạm giam và có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Nguyễn Hoàng Lan C, sinh năm 1975 (có mặt)

Địa chỉ: Số E, đường N, Phường A, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Trần Văn C1, sinh năm 1991 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp P, xã M, huyện C, tỉnh Kiên Giang.

2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Đ1, sinh năm 1963 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp Trung Trị, xã Trung Hiệp, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long

3. Ông Nguyễn Hoàng S, sinh năm 2000 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp L, xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ, ngày 15/01/2023 bị cáo Nguyễn Tấn T đi đến cơ sở cho thuê xe mô tô của bà Nguyễn Hoàng Lan C tại ấp A, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long thuê 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu trắng, loại xe Vision biển số: 64B1- 709.46 để làm phương tiện đi lại. Khi thuê xe giữa bị cáo T và bà C có lập hợp đồng thuê xe với giá là 200.000 đồng/ngày, hợp đồng thuê 10 ngày (từ ngày 15/01/2023 đến ngày 24/01/2023) với tổng giá tiền thuê: 2.000.000 đồng. Bị cáo T để lại căn cước công dân lại cho bà Chi g, T trả trước 500.000 đồng, còn lại 1.500.000 đồng sẽ chuyển khoản trả sau. Sau khi thuê xe mô tô T sử dụng làm phương tiện để đi lại. Đến ngày 21/01/2023 T điều khiển xuống người bạn tên Nguyễn Hoàng S đang làm thuê ở tại khu vực gần bến xe R, tỉnh Kiên Giang chơi. Đến ngày 22/01/2023 do không có tiền tiêu xài nên T nảy sinh ý định đem xe mô tô biển số 64B1-709.46 đi cầm lấy tiền tiêu xài, T nhờ S đi cầm xe mô tô giùm. Sau đó S chở T đi cầm phương tiện xe mô tô biển số 64B1-709.46 cho ông Trần Văn C1 với giá là 7.000.000 đồng. Đến ngày 24/01/2023 theo hợp đồng T phải trả xe mô tô biển số: 64B1-709.46 thuê cho bà C, nhưng T đã đem cầm, không có khả năng chuộc lại xe nên T bỏ trốn không có về địa phương, đi ở làm thuê nhiều nơi. Đến ngày 18/4/2023 bà C đến Công an xã M, huyện M tố giác sự việc trên.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 22/KLĐGTS ngày 05/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện M kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu (Brand): HONDA; số loại (Model code): VISION; Dung tích: 108.2; số máy: JF58E0457499; số khung: 5808EY571755; màu sơn trắng; biển số 64B1-709.46; Ngày đăng ký 21/7/2016. Giá trị tài sản tại thời điểm bị chiếm đoạt: 37.000.000 đồng x 30% = 11.100.000 đồng.

Ngày 22/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, đối với Nguyễn Tấn T, về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.

* Về tang vật đã thu giữ và xử lý:

- 01 xe mô tô biển số 64B1-709.46 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô 64B1-709.46. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã chứng minh đây là tài sản thuộc quyền sở hữu của bà Nguyễn Hoàng Lan C. Hiện nay bà C đã nhận lại tài sản xong.

* Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

- Bà Nguyễn Hoàng Lan C đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường gì khác.

- Ông Trần Văn C1 yêu cầu bị cáo bồi thường tiền cầm xe mô tô biển số 64B1-709.46 với số tiền là 7.000.000 đồng. Bị cáo đã tác động mẹ ruột là bà Nguyễn Thị Ngọc Đ1 đã bồi thường xong và bà Đ1 không có yêu cầu bị cáo trả lại số tiền này.

Đối với hành vi của Nguyễn Hoàng STrần Văn C1 giúp bị cáo T cầm xe và nhận cầm xe mô tô 64B1-709.46. S và C1 hoàn toàn không biết đây là tài sản do phạm tội mà có, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M không xử lý.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại phiên tòa, bị hại xác định đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bị cáo bồi thường, về trách nhiệm hình sự yêu cầu xử lý theo quy định pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 75/CT-VKS.HMT, ngày 05/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít truy tố bị cáo Nguyễn Tấn T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Tấn T đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng điểm b khoản 1, khoản 5 Điều 175; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn T phạm tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và đề nghị xử phạt bị cáo 06 tháng đến 09 tháng tù.
  • - Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • - Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường, nên không xem xét giải quyết.
  • - Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong.
  • - Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Tấn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo thừa nhận mình có tội và không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tấn T khai nhận: Ngày 15/01/2023 bị cáo thuê 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu trắng, loại xe Vision biển số: 64B1- 709.46 của bà Nguyễn Hoàng Lan C để làm phương tiện đi lại, với giá là 200.000 đồng/ngày, hợp đồng thuê 10 ngày (từ ngày 15/01/2023 đến ngày 24/01/2023) với tổng giá tiền thuê: là 2.000.000 đồng, bị cáo trả trước 500.000 đồng, còn lại 1.500.000 đồng sẽ chuyển khoản trả sau. Đến ngày 22/01/2023 do không có tiền tiêu xài nên bị cáo nảy sinh ý định đem xe mô tô biển số 64B1-709.46 đi cầm lấy tiền tiêu xài, bị cáo cầm xe cho Trần Văn C1 được số tiền là 7.000.000 đồng. Đến ngày 24/01/2023 theo hợp đồng bị cáo phải trả xe mô tô biển số: 64B1-709.46 thuê cho bà C, nhưng bị cáo không có khả năng chuộc lại xe nên bị cáo bỏ trốn không có về địa phương, đi ở làm thuê nhiều nơi, xe mô tô biển số 64B1- 709.46 có giá trị là 11.100.000 đồng. Xét thấy, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, phù hợp với vật chứng Cơ quan điều tra thu giữ được và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa. Bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Do đó, có đủ cơ sở xác định bị cáo Nguyễn Tấn T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến khách thể được luật hình bảo vệ, đó là quyền sở hữu về tài sản. Bị cáo vì muốn có tiền để tiêu xài cá nhân, bị cáo lại không tích cực lao động sản xuất để có thu nhập hợp pháp, mà có hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác làm của riêng mình. Bị cáo đã lợi dụng lòng tin của chủ sở hữu thực hiện hành vi Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật nhưng vẫn quyết tâm thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện sự xem thường pháp luật, gây bất bình trong xã hội, làm mất trật tự ở địa phương. Vì thế cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt nghiêm để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội, đồng thời cũng nhằm răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tác động mẹ ruột khắc phục hậu quả; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[5] Về hình phạt bổ sung: Hiện nay do bị cáo không có nghề nghiệp, nên miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường, nên không xem xét giải quyết.

[7] Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong.

[8] Xét, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận.

[9] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 175; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
    • - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị bắt tạm giam ngày 22/7/2023.
    • - Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  2. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.
  3. Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong.
  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Nguyễn Tấn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Trường hợp bản án, quyết định, được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được qui định theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
  6. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo, bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo là mười lăm ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Vĩnh Long;
  • - VKSND tỉnh Vĩnh Long;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Long;
  • - Phòng hồ sơ – Công an tỉnh VL;
  • - VKSND huyện Mang Thít;
  • - Công an huyện Mang Thít;
  • - Chi cục THADS huyện Mang Thít;
  • - UBND xã Trung Hiệp, huyện Vũng Liêm;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Ngọc Bích

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 77/2023/HS-ST ngày 06/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 77/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lạm dụng tín nhiệm CĐTS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger