|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 77/2024/HSST Ngày 06 - 8 - 2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
+ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Anh Tuấn
+ Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Huy Trụ
2. Ông Đào Văn Kiểm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Vinh - Thư ký, Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hải - Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 8 năm 2024, tại điểm cầu trực tuyến trung tâm trụ sở Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ và tại điểm cầu trực tuyến thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh P tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 68/2024/TLST-HS ngày 06/6/2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử ngày 23/7/2024; đối với:
* Bị cáo: Họ và tên: Nguyễn Văn S; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;
Sinh ngày: 18/4/1998; Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: Thôn T, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Sán Dìu; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Con ông: Nguyễn Văn T, đã chết và bà Đỗ Thị N, sinh năm 1968; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: 02 tiền án: Tại Bản án số 01/2020/HS-ST ngày 20/01/2020 của Toà án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Sáng 01 năm 08 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” (0,185 gam Heroine) và buộc bị cáo S phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm. Bị can chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/4/2021 và thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 27/7/2020. Tại Bản án số 270/2021/HS-ST ngày 25/11/2021 của Toà án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội xử phạt Sáng: 24 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” (0,121g Heroine) và buộc bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm. Bị can đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/7/2023 và chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 26/5/2022. Tiền sự: Không. Nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 94 ngày 05/10/2019 của Công an huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt tiền đối với S: mức phạt 1.500.000đ về hành vi trộm cắp tài sản. Từ thời điểm Sáng bị ra Quyết định xử phạt hành chính đến nay, chỉ có tháng 10, 11 năm 2019, Công an xã B có biên bản làm việc yêu cầu Sáng nộp tiền vi phạm hành chính. Tuy nhiên, gia đình Sáng khoá cửa, không có người ở nhà. Do đó, đến nay đã hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt hành chính. Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 79 ngày 26/3/2024 của Công an huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt tiền đối với S: mức phạt 2.500.000₫ về hành vi trộm cắp tài sản (trị giá 1.200.000đ) ngày 08/11/2023. Bị can bị bắt quả tang, tạm giữ ngày từ 26/12/2023 đến ngày 29/12/2023, khởi tố, chuyển tạm giam. Hiện bị cáo S đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P; (Bị cáo có mặt tại điểm cầu trực tuyến thành phần).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 14 giờ ngày 26/12/2023, tại tổ D, khu T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, Tổ công tác Công an phường T, Công an thành phố V, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn S, sinh năm 1998. HKTT: Thôn T, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ của Sáng 01 gói giấy mặt ngoài và mặt trong đều màu trắng, có dòng kẻ bên trong có chứa chất bột cục màu trắng và số tiền 278.000 đồng. Tại chỗ Sáng tự nhận đây là ma túy Heroine Sáng mua về để sử dụng cho bản thân. Ngày 26/12/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố V ra Quyết định trưng cầu giám định đối với bột cục màu trắng thu giữ của Sáng. Tại Bản kết luận giám định số 1657/KL-KTHS ngày 28/12/2023 của Phòng K2, Công an tỉnh P kết luận: "Chất bột, cục màu trắng chứa bên trong 01 gói giấy gửi đến giám định là ma tuý; có khối lượng là: 0,172 gam; loại Heroine, có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được qui định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý là tiền chất. Hoàn trả lại đối tượng giám định 0,068 gam chất bột, cục màu trắng là mẫu vật còn lại sau khi giám định cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định”.
Tại Cơ quan điều tra, S khai nhận hành vi phạm tội như sau: Do bản thân là người thường xuyên sử dụng chất ma tuý, khoảng 12 giờ ngày 26/12/2023, S đang ở khu vực thôn T, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, S có gặp 01 người đàn ông tên C và hỏi mua được của C 01 gói ma tuý có đặc điểm là gói giấy mặt ngoài và mặt trong đều màu trắng có dòng kẻ, bên trong có chứa chất bột cục màu trắng là ma tuý Heroine với giá 200.000 đồng (Sáng không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của C). Sáng đúc gói ma tuý vừa mua được vào túi quần đang mặc còn C đi đâu Sáng không biết. Sau đó, S đi sang khu vực thành phố V để chơi. Khi đi đến khu vực gần cầu vàng thuộc phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ để tìm nơi sử dụng thì bị Tổ công tác Công an phường T - Công an thành phố V phát hiện, kiểm tra, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng nêu trên. Tại biên bản xét nghiệm ma tuý bằng que thử ngày 26/12/2023 tại Trụ sở Công an phường T Sáng dương tính với ma tuý.
Quá trình tạm giữ Sáng tại Nhà tạm giữ Công an thành phố V, khoảng 05 giờ 30 phút ngày 28/12/2023, Sáng dậy đi vệ sinh và đứng trên thành bể tại buồng tạm giữ, rồi thực hiện động tác bật ngã ngửa ra phía sau xuống nền sàn nhà tạm giữ, ngã đập đầu xuống nền và bị thương tại vùng chẩm bên phải. Ngay sau khi xảy ra vụ việc trên, đồng chí Nguyễn Quang A, sinh năm 1997. HKTT: Phường N, thành phố V, là cán bộ đội Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp Công an thành phố V đang được phân công trong ca trực có nhiệm vụ trực gác theo dõi Camera an ninh của Nhà tạm giữ Công an thành phố V. Quan sát thấy S tự ngã và nằm im bất động tại sàn nhà tạm giữ, đồng thời có tiếng hô: “Có người bị ngã chảy máu”. Đồng chí Quang A báo cáo đồng chí Đỗ Duy K, sinh năm 1991. HKTT: Phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, là đội trưởng đội cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp Công an thành phố V, chỉ huy ca trực về sự việc trên và được phân công đi vào kiểm tra. Quá trình kiểm tra, đồng chí Quang A thấy vùng đầu của Sáng có một vết thương chảy máu, đã báo cáo sự việc đến đồng chí K. Đồng chí K báo cáo Lãnh đạo Công an thành phố Việt Trì sự việc trên. Khi được sự đồng ý của Lãnh đạo Công an thành phố V, đồng chí K phân công đồng chí Quang A làm các thủ tục để đưa S đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh P. Đồng chí Quang A làm các báo cáo, đề xuất, kế hoạch và phương án để đưa Sáng đi cơ sở y tế điều trị. Đồng chí K phân công lực lượng gồm: Đồng chí K, đồng chí Quang A, đồng chí Phan Trường T1, sinh năm 2000. HKTT: xã T, thành phố V, tỉn P, đồng chí Nguyễn Huy H, sinh năm 1992. HKTT: xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, đều là cán bộ đội Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp Công an thành phố V; đồng chí Ngô Đức T2, sinh năm 2003. HKTT: phường D, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, là chiến sĩ nghĩa vụ Công an thành phố V đưa đối tượng Sáng vào Bệnh viện đa khoa tỉnh P. Sau khi hoàn tất thủ tục đưa Sáng vào điều trị, đồng chí K phân công đồng chí Quang A, T1 và T2 ở lại trông giữ Sáng, trong đó đồng chí Quang A làm tổ trưởng, còn đồng chí K và H trở lại đơn vị để làm việc. Sáng được kiểm tra và chụp X-quang rồi được đưa về nằm tại băng ca của K1 cấp cứu. Tại đây có 03 đồng chí Quang A, T1, T2 trông giữ Sáng và có bác sĩ Hoàng Xuân T3, sinh năm 1992. HKTT: Phường D, thành phố V, tỉnh Phú Thọ điều trị chăm sóc. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, do khoa cấp cứu tiếp nhận nhiều bệnh nhân, cần có không gian để cấp cứu các bệnh nhân khác nên bác sĩ T3 nói với các đồng chí công an chỉ để 01 người trông giữ trong phòng. Đồng chí Quang A đã phân công đồng chí T1 đến khu vực cửa trước khoa cấp cứu, đồng chí T2 đến khu vực cửa sau khoa cấp cứu để trông giữ Sáng, còn đồng chí Quang A ngồi sát Sáng. Đến 13 giờ 45 phút cùng ngày, bác sĩ T3 tiến hành thăm khám bệnh cho Sáng nên yêu cầu đồng chí Quang A mở khoá còng số 8. Đồng chí Quang A mở khoá còng và đứng cách vị trí của S đang nằm khoảng 02 mét đến 03 mét. Trong lúc bác sĩ đang thăm khám cho S, S đã bật dậy khỏi băng ca và chạy ra cửa sổ của K1 cấp cứu (lúc này cửa sổ đang mở, không có thanh chắn), S trèo qua cửa sổ và nhảy ra ngoài khoa cấp cứu bỏ chạy. Ngay lúc đó, đồng chí Quang A, T1 và T2 dồn đuổi để bắt giữ Sáng. Sáng chạy ra phía sau bệnh viện và trèo qua bờ tường của bệnh viện để trốn ra ngoài. Khi S chạy ra được bên ngoài đường đến vỉa hè thuộc tổ H, khu T, phường T, thành phố V, S thấy có 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Locin màu nâu mang BKS: 22K7-6284 của ông Lê Văn B, sinh năm 1969. HKTT: xã K, thành phố V đang dựng ở vỉa hè và vẫn cắm chìa khoá xe ở ổ khoá. Sáng đi đến chỗ dựng chiếc xe, quan sát không có ai, S mở chìa khoá điện của xe rồi nổ máy đi về hướng cầu V để trốn và điều khiển đi về nhà Sáng tại xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc. Khi về đền nhà, không có ai ở nhà, S đã lấy áo khoác của Sáng mặc bên ngoài quần bệnh nhân, còn áo bệnh nhân màu xanh của bệnh viện, S đã cởi bỏ và vứt trên đường (Sáng không nhớ địa điểm nào). Đến khoảng hơn 14 giờ cùng ngày, S đến nhà anh Nguyễn Văn T4, sinh năm 1999. HKTT: Thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc là cháu họ của S. Sáng dựng xe phía sau nhà T4, vào nhà T4 chỉ có một mình T4 ở nhà. Sáng ngồi chơi một lúc do lo sợ bị bắt nên S tiếp tục bỏ trốn ở khu vực cánh đồng thuộc xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc và lang thang ở các cánh đồng để tránh bị phát hiện. Đến khoảng 10 giờ 25 phút ngày 29/12/2023, khi S đang bỏ trốn tại khu vực thôn T, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc thì bị tổ công tác của đội Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp Công an thành phố V phát hiện, bắt giữ. Ngày 28/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an thành phố V tạm giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Loncin, biển kiểm soát 22K7-6284, màu nâu do anh Nguyễn Văn T4 giao nộp. Ngày 02/01/2024, Cơ quan điều tra ra yêu cầu định giá tài sản đối với chiếc xe mô tô trên, là chiếc xe Sáng trộm cắp khi bỏ trốn. Tại Kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐGTS ngày 03/01/2024 kết luận: Giá 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Loncin, màu nâu, sản xuất năm 2008, biển kiểm soát 22K7-6284, xe đã qua sử dụng trị giá 900.000 đồng.
Tại Cáo trạng số: 66/CT-VKS-VT ngày 06 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Nguyễn Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo Điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự và tội “Trốn khi đang bị áp giải” theo khoản 1 Điều 386 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố; sau khi luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Đo khoản 2 Điều 249 và tội “Trốn khi đang bị áp giải” theo khoản 1 Điều 386 Bộ luật Hình sự;
Áp dụng điểm o, khoản 2, 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Đề nghị phạt bị cáo S từ 06 năm 06 tháng đến 07 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý;
Áp dụng khoản 1, Điều 386; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h, khoản 1, Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự. Đề nghị phạt bị cáo S từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội Trốn khi đang bị áp giải;
Áp dụng khoản 1, Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội, buộc Sáng phải chấp hành từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 26/12/2023.
- Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 278.000 đồng thu giữ của bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu hủy: 0,172 gam chất bột, cục màu trắng còn lại sau giám định để trong 01 bì niêm phong số 1657 của Phòng K2 Công an tỉnh P.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Q. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an thành phố V, tỉnh Phú Thọ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau: Hồi 04 giờ 00 phút ngày 26/12/2023, tại tại tổ D, khu T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ Nguyễn Văn S đang có hành vi tàng trữ trái phép, khối lượng 0,172 gam chất ma tuý loại Heroine với mục đích để sử dụng, bị Tổ công tác Công an phường T, thành phố V kiểm tra, phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng. Đồng thời, trong quá trình áp giải Sáng đi điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh P, vào khoảng 13 giờ 45 phút ngày 28/12/2023, S đã bỏ trốn, nhưng đến ngày 29/12/2023, Tổ công tác của đội Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp Công an thành phố V đã nhanh chóng bắt giữ được Sáng. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với thời gian, địa điểm nơi xảy ra vụ án và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Vì vậy, có đủ cơ sở và căn cứ pháp lý để kết luận bị cáo Nguyễn Văn S đã phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, với tình tiết định khung hình phạt là “Tái phạm nguy hiểm”, theo Đo khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự và phạm tội: “Trốn khi đang bị áp giải”, theo khoản 1 Điều 386 Bộ luật Hình sự; như cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tại phiên tòa là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
o. Tái phạm nguy hiểm”.
Khoản 1 Điều 386 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào đang bị tạm giữ, tạm giam, áp giải, xét xử hoặc chấp hành án phạt tù mà bỏ trốn, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 3 năm”.
[2.2]. Đánh giá tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý mà bị cáo còn bỏ trốn khi bị áp giải, thể hiện sự coi thường, bất chấp pháp luật, gây bức xúc trong dư luận quần chúng nhân dân và gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo thật nghiêm trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Trước khi quyết định hình phạt cần xem xét nguyên nhân, động cơ, mục đích hành vi phạm tội và xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
[2.3]. Về nguyên nhân, động cơ, mục đích dẫn đến hành vi phạm tội: Là do bị cáo S là người thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy, cho nên đã đi tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Đồng thời, trong quá trình Công an dẫn giải bị cáo đi điều trị tại Bệnh viện, S đã lợi dụng việc Bác sĩ thăm khám cho mình để bỏ trốn ra ngoài, nhằm trốn tránh việc xử lý của pháp luật.
[2.4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo S thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn, hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có 02 tiền án, chưa được xóa án, nhưng tiền án này đã là dấu hiệu định khung hình phạt cho hành vi phạm tội về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nên đối với hành vi phạm tội này bị cáo không phải chịu tình tiết tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; Còn đối với hành vi phạm tội: “Trốn khi đang bị áp giải”, thì 02 tiền án, chưa được xóa án thì bị cáo phải chịu tình tiết tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, đó là: “Tái phạm nguy hiểm”. Vì vậy, khi xem xét quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc mức hình phạt sao cho phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội cũng như nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
[3]. Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra xác định bị cáo sống cùng gia đình tại xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, bị cáo không có tài sản gì có giá trị. Nhưng khi bị bắt thu giữ của bị cáo S số tiền 278.000 đồng; Cơ quan CSĐT đã làm rõ không liên quan đến hành vi phạm tội. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 278.000 đồng của bị cáo S là phù hợp.
[4]. Về xử lý vật chứng: Cần tịch thu, tiêu hủy 01 bì niêm phong số 1657/KL-KTHS của Phòng K2, Công an tỉnh P trả lại: 0,172gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định trong mẫu vật thu giữ của bị cáo S.
[5]. Các vấn đề khác: Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của bị cáo S, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã chuyển Công an thành phố V ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo là phù hợp. Đối với người bán ma tuý cho bị cáo S tên C ngày 26/12/2023, do S không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, ngoài lời khai của S không có căn cứ nào chứng minh về việc C bán ma tuý cho S. Cho nên, Cơ quan Cảnh sát điều tra không đủ căn cứ để xác minh, làm rõ, xử lý là phù hợp.
Đối với hành vi trộm cắp chiếc xe máy xảy ra ngày 28/12/2023, do giá trị của chiếc xe máy dưới 2.000.000 đồng (Trị giá tài sản theo kết luận định giá là: 900.000 đồng). Đồng thời, tại biên bản xác minh ngày 02/01/2024, về việc kết quả xử lý vụ việc liên quan đối với Nguyễn Văn S do Công an huyện L đang thụ lý thể hiện: Ngày 15/11/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện L tiếp nhận tin báo, tố giác tội phạm của bà Hà Thị B1, sinh năm 1971. Nơi HKTT: Thôn Đ, xã X, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, về việc Nguyễn Văn S, sinh năm 1998 cùng Nguyễn Văn C1, sinh năm 2000. Đều có HKTT: Thôn T, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc trộm cắp tài sản là 01 chiếc xe đạp trị giá 1.200.000 đồng tại thôn L, xã X, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, ngày 08/11/2023 do Công an xã X, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc chuyển đến. Ngày 27/02/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện L ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự đối với tin báo trên. Ngày 26/3/2024, Công an huyện L ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 79 đối với Nguyễn Văn S với hình thức phạt tiền số tiền 2.500.000 đồng. Bản thân Sáng chưa bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản, chưa bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” hoặc một trong các tội quy định tại Điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 Bộ luật Hình sự. Do đó, hành vi trộm cắp trên của S không cấu thành tội trộm cắp tài sản. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V chuyển Công an thành phố V ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với S, với hình thức phạt tiền số tiền 2.500.000 đồng là phù hợp.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Loncin BKS: 22K7-6284, màu nâu, xe đã qua sử dụng, quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là của ông Lê Văn B. Ngày 10/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V ra Quyết định trả lại chiếc xe trên cho chủ sở hữu hợp pháp là ông B. Ông B không có đề nghị và yêu cầu gì đối với Sáng nên không đặt ra giải quyết là phù hợp.
Đối với anh Nguyễn Văn T4, do anh T4 không biết sự việc Sáng bị tạm giữ và bỏ trốn khi đang bị áp giải hay giúp đỡ, bao che cho S bỏ trốn nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
Đối với các cán bộ được giao nhiệm vụ áp giải và trông giữ Sáng, do quá trình thăm khám của Bác sĩ, S đã lợi dụng để bỏ trốn. Sau đó, Tổ công tác của đội Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp Công an thành phố V đã nhanh chóng tiến hành ngăn chặn và bắt giữ được Sáng. Quá trình được giao nhiệm vụ áp giải và trông giữ Sáng, các cán bộ đã thực hiện đúng quy định về quản lý, canh gác, áp giải người phạm tội, nên cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao không đề cập xử lý, là phù hợp. Nhưng đây cũng là bài học để cơ quan CSĐT cần phải có phương án cụ thể, chắc chắn khi làm thủ tục áp giải bị can trong quá trình điều tra.
[6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
[7]. Xét đề nghị của Viện kiểm sát về tội danh và hình phạt cũng như những nội dung khác là có căn cứ và phù hợp quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điểm o khoản 2, khoản 5 Điều 249; Khoản 1 Điều 386; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 55; Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và phạm tội: “Trốn khi đang bị áp giải”.
- Về hình phạt chính:
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 06 (Sáu) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 12 (Mười hai) tháng tù về tội: “Trốn khi đang bị áp giải".
Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Văn S phải chấp hành chung cho cả 02 tội là: 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 26/12/2023.
- Về hình phạt bổ sung: Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 278.000 đồng (Hai trăm bảy mươi tám nghìn đồng) thu giữ của bị cáo S; (Theo Ủy nhiệm chi bằng hình thức chuyển khoản ngày 07/6/2024, giữa Công an thành phố V và Chi cục Thi hành án dân sự TP ., tỉnh Phú Thọ, tại Kho bạc Nhà nước P).
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy: 01 bì niêm phong số 1657/KL-KTHS của Phòng K2, Công an tỉnh P trả lại: 0,172gam chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định trong mẫu vật thu giữ của Nguyễn Văn S; (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/6/2024, giữa Công an thành phố V và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ).
- Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn S phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng), tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Anh Tuấn |
Bản án số 77/2024/HSST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ về tàng trữ trái phép chất ma tuý và trốn khi đang bị áp giải
- Số bản án: 77/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý và Trốn khi đang bị áp giải
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: S tàng trữ trái phép chất ma túy
