|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 77/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 03/5/2024
“V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lại Hiệp Phong.
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phan Thị Yến;
- Ông Lý Tuấn Phong.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Kiệt - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Nhựt – Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 55/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 01 năm 2024 về việc “tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 185/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 209/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm 1985; địa chỉ: ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang; vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Phan Thanh V, sinh năm 1984; địa chỉ: ấp M, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc L trình bày: Qua tìm hiểu, bà L và ông V kết hôn vào năm 2007, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã M, thành phố L, tỉnh An Giang ngày 11/6/2007. Trong thời gian
2
chung sống, vợ chồng có sinh 02 con chung tên Phan Thanh K, sinh ngày 29/5/2004 và Phan Thanh T, sinh ngày 30/10/2006. Các con chung đang được ông V nuôi dưỡng. Tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Sau thời gian chung sống, đến năm 2020, vợ chồng thường xuyên cãi vã do bất đồng quan điểm sống và không còn chung sống hơn 04 năm cho đến nay.
Do tình cảm vợ chồng không còn nên bà L yêu cầu được ly hôn với ông V; do cháu Phan Thanh K đã thành niên và có khả năng lao động, nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết; đồng ý để ông V được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Phan Thanh T, không đồng ý cấp dưỡng nuôi dạy con chung; không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết về tài sản chung, nợ chung.
Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu cầu khởi kiện: Giấy chứng nhận kết hôn số 123, quyển số I/2007, ngày 11/6/2007 do Ủy ban nhân dân xã M, thành phố L, tỉnh An Giang cấp đối với bà Nguyễn Thị Ngọc L, ông Phan Thanh V (bản sao); Giấy khai sinh số 205, quyển số II/2007, ngày 11/6/2007 do Ủy ban nhân dân xã M, thành phố L, tỉnh An Giang cấp đối với Phan Thanh K (bản sao); Giấy khai sinh số 206, quyển số II/2007, ngày 11/6/2007 do Ủy ban nhân dân xã M, thành phố L, tỉnh An Giang cấp đối với Phan Thanh T (bản sao chứng thực).
- Bị đơn ông Phan Thanh V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, về trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn mặc dù được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về việc giải quyết vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà L; bà L được ly hôn với ông V; giao cháu T cho ông V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, đối với cháu K đã thành niên và có khả năng lao động nên không xem xét, giải quyết; về cấp dưỡng, tài sản chung, nợ chung, không xem xét, giải quyết.
3
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Bà Nguyễn Thị Ngọc L khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Phan Thanh V. Đồng thời, ông V cư trú trên địa bàn thành phố L. Xét đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, bà L, ông V đều vắng mặt. Trong đó, bà L có yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt; ông V đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Cho nên, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà L, ông V theo quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hôn nhân:
Bà L và ông V tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông V là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Bà L xác định, sau thời gian chung sống, đến năm 2020, vợ chồng thường xuyên cãi vã do bất đồng quan điểm sống và không còn chung sống với nhau hơn 04 năm cho đến nay.
Xét thấy, xuất phát từ mâu thuẫn trong thời gian chung sống, bà L và ông V thường xuyên cãi vã và không còn sống chung hơn 04 năm cho đến nay. Vợ chồng không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Bên cạnh đó, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án cho ông V nhưng ông V không có ý kiến phản đối yêu cầu ly hôn của bà L. Cho nên, có căn cứ xác định mâu thuẫn giữa bà L và ông V là trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L đối với ông V theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[2.2] Về con chung:
Bà L xác định trong thời gian chung sống, vợ chồng có sinh 02 con chung tên Phan Thanh K, sinh ngày 29/5/2004 và Phan Thanh T, sinh ngày 30/10/2006. Do cháu K đã thành niên và có khả năng lao động nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, đồng ý để ông V được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T.
Xét thấy, cháu K đã thành niên và có khả năng lao động nuôi sống bản thân nên bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết cho nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Riêng, cháu T đang được ông V chăm sóc, nuôi dưỡng, phát triển ổn định. Đồng thời, trong quá trình giải quyết vụ án, ông V không có ý kiến phản đối yêu cầu này của bà L. Hơn nữa, cháu T có nguyện vọng được sống chung với ông V trong trường hợp bà L và ông Vũ ly h. Do đó, để đảm bảo
4
ổn định cuộc sống cho con chung, giúp con chung phát triển tốt về thể chất, tinh thần, Hội đồng xét xử giao cháu T cho ông V tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng theo Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con chung, do ông V không yêu cầu và bà L không đồng ý cấp dưỡng nuôi dạy cháu T nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà L xác định không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên không đề cập giải quyết.
[2.4] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà L phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Ông V không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; các Điều 144, 147, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc L.
- Về hôn nhân:
Bà Nguyễn Thị Ngọc L được ly hôn với ông Phan Thanh V.
- Về con chung:
Ông Phan Thanh V được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Phan Thanh T, sinh ngày 30/10/2006. Bà Nguyễn Thị Ngọc L không phải cấp dưỡng nuôi dạy con chung.
Ông Phan Thanh V cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở bà Nguyễn Thị Ngọc L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
- Về án phí sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị Ngọc L phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số BLTU/23/0001483 do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh
5
An Giang cấp ngày 23 tháng 01 năm 2024; bà Nguyễn Thị Ngọc L đã nộp đủ án phí.
Ông Phan Thanh V không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Bà Nguyễn Thị Ngọc L, ông Phan Thanh V có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lại Hiệp Phong |
Bản án số 77/2024/HNGĐ-ST ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 77/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: - Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Loan trình bày: Qua tìm hiểu, bà Loan và ông Vũ kết hôn vào năm 2007, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hòa Hưng, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang ngày 11/6/2007. Trong thời gian chung sống, vợ chồng có sinh 02 con chung tên Phan Thanh Khoa, sinh ngày 29/5/2004 và Phan Thanh Toàn, sinh ngày 30/10/2006. Các con chung đang được ông Vũ nuôi dưỡng. Tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Sau thời gian chung sống, đến năm 2020, vợ chồng thường xuyên cãi vã do bất đồng quan điểm sống và không còn chung sống hơn 04 năm cho đến nay. Do tình cảm vợ chồng không còn nên bà Loan yêu cầu được ly hôn với ông Vũ; do cháu Phan Thanh Khoa đã thành niên và có khả năng lao động, nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết; đồng ý để ông Vũ được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Phan Thanh Toàn, không đồng ý cấp dưỡng nuôi dạy con chung; không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết về tài sản chung, nợ chung.
