TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 77/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 22 – 5 – 2024
Về việc ly hôn, nuôi con chung
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Đào
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Ngọc Quyền
- Ông Trần Văn Phước
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Lý Thị Nhiên - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện P xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 100/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2024 về việc “ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Ngô Ngọc Đ, sinh năm 1980
Địa chỉ: Ấp 8B, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1985
Địa chỉ: Ấp 8B, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
(Anh Đ, chị T vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 15 tháng 02 năm 2024 và lời khai tại Tòa án nguyên đơn anh Ngô Ngọc Đ trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị T xây dựng hôn nhân vào năm 2009, trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán tại địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, theo giấy chứng nhận kết hôn số 60/2009 ngày 15/5/2009. Quá trình chung sống anh với chị T thường xuyên cự cải do bất đồng quan điểm, tính tình không hòa hợp. Vì vậy, anh và chị T đã ly thân từ tháng 8 năm 2018 đến nay. Trong thời gian ly thân, anh và chị T không có liên lạc để hàn gắn mối quan hệ vợ chồng. Do tình cảm vợ chồng không còn mục đích hôn nhân không đạt được nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị T. Về con chung: Anh và chị T có hai người con chung tên Ngô Hồng N sinh ngày 28/8/2010 và cháu Ngô Đức M, sinh ngày 10/3/2017. Hiện hai cháu N và M đang sống với anh từ khi ly thân đến nay, anh tự chăm lo cho hai cháu, chị T không chu cấp và quan tâm đến hai con. Nay anh yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, giáo dục hai cháu Ngô Hồng N và Ngô Đức M, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn chị Nguyễn Thị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt nên Tòa án không lấy được lời khai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, riêng bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại khoản 15, 16 Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, giải quyết cho anh Ngô Ngọc Đ ly hôn với chị Nguyễn Thị T. Về con chung: Giao cháu Ngô Hồng N sinh ngày 28/8/2010 và cháu Ngô Đức M, sinh ngày 10/3/2017 cho anh Ngô Ngọc Đ tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Nguyễn Thị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết. Về án phí, anh Đ phải chịu 300.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[2] Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: Anh Ngô Ngọc Đ khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị Nguyễn Thị T. Khi khởi kiện, chị T trú tại ấp 8B, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện P thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, anh Đ có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt anh Đ và chị T là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về hôn nhân: Anh Đ và chị T xây dựng hôn nhân năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P theo giấy chứng nhận kết hôn số 60/2009 ngày 15/5/2009 nên hôn nhân giữa anh Đ và chị T là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Xét thấy, theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình. Tuy nhiên, theo anh Đ xác định trong quá trình chung sống anh và chị T xảy nhiều mâu thuẫn, cuộc sống chung không hạnh phúc, anh Đ và chị T đã ly thân từ tháng 8 năm 2018 cho đến nay. Trong thời gian ly thân, anh Đ và chị T cũng không gặp nhau để hàn gắn quan hệ vợ chồng. Mặt khác, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng chị T không đến Tòa án và cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của anh Đ, nên vậy chị T đã bỏ mặc mối quan hệ hôn nhân này. Từ đó, cho thấy hôn nhân giữa anh Đ và chị T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh Đ, cho anh Đ được ly hôn với chị T.
[4] Về con chung: Quá trình chung sống, anh Đ và chị T có 02 người con là cháu Ngô Hồng N sinh ngày 28/8/2010 và cháu Ngô Đức M, sinh ngày 10/3/2017. Anh Đ yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục hai cháu Ngô Hồng N và Ngô Đức M, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con. Chị T đã được Tòa án thông báo về việc yêu cầu nuôi con chung của anh Đ nhưng chị T không có ý kiến phản đối gì đối với yêu cầu của anh Đ. Xét thấy, từ khi ly thân, anh Đ là người trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu Ngô Hồng N và Ngô Đức M, chăm sóc tốt cho hai cháu, tạo điều kiện cho hai cháu phát triển tốt về thể chất và tinh thần. Vì vậy, để không làm thay đổi cuộc sống ổn định và bảo đảm quyền lợi mọi mặt của cháu Ngô Hồng N và Ngô Đức M, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu của anh Đ: Giao cháu Ngô Hồng N sinh ngày 28/8/2010 và cháu Ngô Đức M, sinh ngày 10/3/2017 cho anh Đ tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
[5] Về cấp dưỡng: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[6] Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[7] Về án phí: Anh Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng. Chị Nguyễn Thị T không phải chịu án phí.
[8] Từ những phân tích trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19, Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh Ngô Ngọc Đ đối với chị Nguyễn Thị T. Cho anh Ngô Ngọc Đ ly hôn với chị Nguyễn Thị T.
- Về con chung:
- Giao Ngô Hồng N sinh ngày 28/8/2010 và cháu Ngô Đức M, sinh ngày 10/3/2017 cho anh Ngô Ngọc Đ tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Hiện cháu Ngô Hồng N và Ngô Đức M đang sống với anh Ngô Ngọc Đ. Chị Nguyễn Thị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và Gia đình: Anh Ngô Ngọc Đ phải chịu số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Anh Ngô Ngọc Đ đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0006711 ngày 21 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện P được chuyển thu án phí. Chị Nguyễn Thị T không phải chịu án phí.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Hồng Đào |
Bản án số 77/2024/HNGĐ-ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH BẠC LIÊU về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 77/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
