Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 6 - BẮC NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2025/HS-ST

Ngày 30 tháng 9 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - BẮC NINH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Bằng và ông Nguyễn Như Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 30/9/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 75/2025/TLST-HS ngày 17/9/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2025/QĐXXST-HS ngày 18/9/2025 đối với bị cáo:

Vũ Đình T, sinh năm 2003; CCCD số: [...]; HKTT: Xóm Thượng, khu T, phường V, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Đình T1 và con bà Vũ Thị B; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 08/8/2025 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 01 Công an tỉnh B (có mặt tại phiên tòa).

Bị hại: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1985 (Vắng mặt); ĐKHKTT: Thôn C, xã H, tỉnh Lào Cai.

Hiện trú tại: khu T, phường V, tỉnh Bắc Ninh.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1970 ( Vắng mặt); HKTT: Khu P, phường V, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 13/7/2025, Công an phường V, tỉnh Bắc Ninh tiếp nhận đơn trình báo của anh Nguyễn Văn L về việc bị mất tài sản. Quá trình điều tra xác định Vũ Đình T đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 20 giờ ngày 09/7/2025, T đi bộ từ nhà đến nhà bà Nguyễn Thị D, nơi anh L đang thuê trọ. Khi đến phòng anh L, T thấy không có ai ở nhà, T đi vào khu vực bếp không khóa cửa. T thấy trong bếp có 01 hộp chữ nhật màu đỏ, mở ra bên trong có 01 máy đục bê tông có tay cầm màu đỏ nhãn hiệu YAMASU, công suất YMS-95A, ngoài sân có 01 xe rùa bằng sắt, T cầm chiếc máy đục để lên xe rùa rồi đẩy vào khu P, phường V để tìm nơi tiêu thụ. Sáng hôm sau T mang tài sản bán cho bà Nguyễn Thị N được 200.000 đồng. Khi bán T nói dối là máy đục và xe rùa cũ của nhà T, không dùng đến nữa nên T muốn bán.

Vụ thứ hai: Với thủ đoạn như trên, khoảng gần 12 giờ ngày 11/7/2025, T tiếp tục đến nhà nơi anh L ở, thấy không có ai ở nhà, T vào bếp trộm cắp 01 máy đục bê tông tay cầm màu xanh nhãn hiệu DEMOLITION HAMMER, 01 máy cắt màu xanh nhãn hiệu DCA-ASM150A và 01 xe rùa. Sau đó, T đẩy xe rùa với hai chiếc máy đến bán cho bà N được 154.000 đồng. Số tiền này T cũng đã ăn tiêu cá nhân hết.

Ngày 13/7/2025, Công an phường V đến làm việc, tại Cơ quan Công an, T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như trên. Ngày 13/7/2025, sau khi biết thông tin các tài sản mà T bán cho mình là tài sản do phạm tội mà có, bà N đã tự nguyện giao nộp cho lực lượng Công an để phục vụ công tác điều tra.

Ngày 22/7/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã ra quyết định trưng cầu giám định đối với các tài sản trên.Tại bản Kết luận định giá số 16/KL-HĐĐGTS ngày 28/7/2025 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự - tỉnh Bắc Ninh kết luận:

  • “01(một) máy đục bê tông có tay cầm màu đỏ nhãn hiệu YAMASU, công suất YMS-95A đã qua sử dụng, trị giá 1.900.000 đồng;
  • - 01 (một) máy đục bê tông có tay cầm màu xanh nhãn hiệu DEMOLITION HAMMER đã qua sử dụng, trị giá 1.466.666 đồng;
  • - 01 (một) máy cắt màu xanh nhãn hiệu DCA-ASM150A đã qua sử dụng trị giá 600.000 đồng;
  • - 02 (hai) xe rùa bằng kim loại đã qua sử dụng, trị giá 346.666 đồng.”

Với nội dung trên, bản Cáo trạng số: 68/CT-VKSKV6 ngày 17/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Bắc Ninh truy tố Vũ Đình T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo T trình bày: Trong các ngày 09/7/2025 và 11/7/2025, bị cáo đã lén lút đột nhập vào nhà bà D nơi anh L đang thuê trọ chiếm đoạt 02 máy đục bê tông, 02 xe rùa bằng sắt, 01 máy cắt. Bị cáo đem bán cho bà N tài sản trên được số tiền 354.000 đồng. Khi bán tài sản cho bà N, bị cáo không nói cho bà N biết nguồn gốc tài sản trên do trộm cắp mà có.

Bị hại anh Nguyễn Văn L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa, lời khai có trong hồ sơ thể hiện: Trong các ngày 09/7/2025 và 11/7/2025, bị cáo T có vào nhà anh nơi anh trọ lấy 02 máy đục bê tông, 02 xe rùa bằng sắt, 01 máy cắt là tài sản của anh. Hiện nay cơ quan Công an đã thu hồi và trả lại anh toàn bộ tài sản trên nên anh không có yêu cầu gì.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa; nội dung đơn xin vắng mặt và lời khai có trong hồ sơ thể hiện: Bà có mua của bị cáo T 02 máy đục bê tông, 02 xe rùa bằng sắt và 01 máy cắt là 354.000 đồng. Tuy nhiên khi mua bà không biết do T trộm cắp mà có. Bà không yêu cầu bị cáo T hoàn trả số tiền 354.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Bắc Ninh duy trì công tố tại phiên tòa sau khi, phân tích, đánh giá các chứng cứ, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Tuyên bố bị cáo Vũ Đình T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Hình phạt và điều luật áp dụng; Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Vũ Đình T từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/8/2025.
  3. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  4. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì nên không đặt ra giải quyết.
  5. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo nhận tội, không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
  2. [2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai bị hại, vật chứng thu giữ được và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, kết luận: Vào các ngày 09/7/2025 và 11/7/2025, tại khu nhà của nhà bà Nguyễn Thị D tại T, phường V, tỉnh Bắc Ninh; Vũ Đình T đã 02 lần thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của anh Nguyễn Văn L với tổng trị giá tài sản bị trộm cắp là 4.313.332 đồng; Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, căn cứ nhân thân, giá trị tài sản chiếm đoạt, Cáo trạng truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
  3. [3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an nơi xảy ra tội phạm. Do vậy cần một hình phạt tương xứng với hành vi bị cáo đã phạm mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
  4. [4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên trong thời gian ngắn bị cáo đã 02 lần thực hiện hành vi lén lút trộm cắp tài sản của anh Nguyễn Văn L và 02 lần trên đều đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản. Do vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội với mục đích thu lời bất chính, lẽ ra cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo mới có tác dụng răn đe. Tuy nhiên xét thấy bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  1. [5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản là 02 máy đục bê tông, 02 xe rùa bằng sắt, 01 máy cắt và không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Đối với bà N không yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiền 354.000 đồng, Hội đồng xét xử nhận thấy đây là sự tự nguyện của bà N nên không truy thu số tiền của bị cáo là có căn cứ.
  2. [6] Liên quan trong vụ án có bà Nguyễn Thị N mua 02 máy đục bê tông, 02 xe rùa bằng sắt, 01 máy cắt do bị cáo T bán, tuy nhiên khi mua bà N không biết do T trộm cắp mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B không xử lý là phù hợp.
  3. [7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Đình T phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt: Vũ Đình T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/8/2025.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án./.

Nơi nhận:

  • - TAND/VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND khu vực 6 - Bắc Ninh;
  • - Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • -Trại tạm giam số 1 CAT. Bắc Ninh/Phân
  • trại tạm giam Bắc Ninh;
  • - THADS tỉnh Bắc Ninh (HLPL);
  • - Người TGTT;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Huy Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 77/2025/HS-ST ngày 30/09/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - BẮC NINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 77/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger