|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 77/2025/HS-ST
Ngày: 19-2-2025.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Chí Quang.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Huỳnh Thị Thanh Thảo.
- 2. Bà Võ Thị Gái.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thế Vinh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuyến – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 34/2025/HSST ngày 17 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2025, với hình thức trực tuyến: Điểm cầu trung tâm đặt tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức và điểm cầu thành phần đặt tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T, sinh năm 1992, tại Thanh Hóa; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu phố T, thị trấn C, huyện B, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú hiện nay: Khu phố T, thị trấn C, huyện B, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Tự do; Con ông Nguyễn Văn Q và bà Nguyễn Thị L.
Tiền án: 02
- - Bản án số 219/HSST ngày 23/9/2020 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/8/2021 và đóng án phí hình sự sơ thẩm.
- - Bản án số 14/HSST ngày 27/02/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/4/2024.
Bị can bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T từ ngày 02/10/2024 đến nay.
- Bị hại:
- Trần Thanh B, sinh năm 1977; Nơi thường trú: Số A N, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở hiện tại: 136 T, Khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Nguyễn Đức H, sinh năm 1988; Nơi thường trú: Thôn H, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; Nơi ở hiện tại: Thôn H, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
Bị cáo có mặt.
Bị hại ông Trần Thanh B và ông Nguyễn Đức H vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền tiêu xài nên Nguyễn Văn T đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất:
Tháng 9/2022, Nguyễn Đức H và Nguyễn Văn T là bạn bè ở cùng phòng trọ số 3 tại địa chỉ Thôn Đ, xã N, huyện V, tỉnh Hưng Yên do anh Hoàng Thế V làm chủ. Khoảng 08 giờ ngày 29/9/2022, trong lúc H đang ngủ, T đã lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Poco C40, màu xanh, 01 xe mô tô hiệu Honda Wave RS, màu đỏ đen bạc, biển số: 29V5 – 9021 và 02 căn cước công dân mang tên Nguyễn Đức H. Sau khi lấy được tài sản, T điều khiển xe mô tô biển số 29V5 - 9021 đến phố C, quận C, thành phố Hà Nội bán xe mô tô trên và 01 điện thoại di động Xiaomi Poco C40 với giá 3.000.000 đồng (T không nhớ địa chỉ nơi bán các tài sản trên). Khoảng 09 giờ 00 phút cùng ngày, H thức dậy phát hiện tài sản của mình bị mất trộm và không thấy đồ đạc của T nên đã liên lạc với T. Do bận công việc gia đình nên anh H chưa trình báo sự việc trên, ngày 28/01/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V tiếp nhận nguồn tin do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thị xã C, tỉnh Bình Phước chuyển đến về việc Nguyễn Văn T khai nhận có lấy trộm tài sản của ông Nguyễn Đức H vào tháng 09/2022, cùng ngày anh H làm đơn trình báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, tỉnh Hưng Yên về vụ, việc trên.
Vụ thứ hai:
Thông qua mạng xã hội facebook, Nguyễn Văn T biết được Trần Thanh B (sinh năm 1992) đang tuyển dụng việc làm tại Cửa hàng V1 có địa chỉ số A đường T, Khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Khoảng 6 giờ 50 phút, ngày 02/10/2024, Nguyễn Văn T đi xe ôm công nghệ Grapbike đến cửa hàng vật liệu xây dựng T để ứng tuyển việc làm và được B đồng ý nhận vào làm. Trong lúc chờ anh B phân công công việc, T quan sát thấy có 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển số: 54V2-4088 dựng trước cửa hàng, có cắm sẵn chìa khoá và không có người trông coi, T liền nảy sinh ý định lấy trộm xe mô tô trên. T đi đến gần xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển số: 54V2-4088, bước lên xe ngồi, rồi dùng tay phải bật chìa khóa xe, đề nổ máy bỏ chạy thì anh B phát hiện tri hô “Trộm, T1” và đuổi theo T. Khi đến trước địa chỉ nhà số B đường T, Khu phố G, phường T, thành phố T thì anh B và người dân bắt giữ được T cùng tang vật giao Công an phường T xử lý vụ, việc.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Nguyễn Văn T thừa nhận toàn bộ nội dung như trên.
Kết luận định giá tài sản Số 06/BKL-ĐGTS ngày 20/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện V, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda 100, biển số 29V5-9021, màu đỏ-đen-bạc đã qua sử dụng có trị giá 9.500.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi POCO C40, màu xanh, đã qua sử dụng trị giá: 2.999.000 đồng. Tổng tài sản chiếm đoạt trị giá: 12.499.000 đồng.
Kết luận định giá tài sản Số 32-KV3/KL-HĐĐGTS ngày 08/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố T, kết luận: 01 xe mô tô hiệu Honda Wave RSX, màu trắng, mang biển số 54V2-4088 trị giá: 6.967.000 đồng.
* Vật chứng vụ án:
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda 100, biển số 29V5-9021, màu đỏ-đen-bạc đứng tên Nguyễn Thành T2, năm 2013 anh T2 đã bán lại xe mô tô trên do không có nhu cầu sử dụng cho ông Nguyễn Đức H (không thu hồi được tài sản).
- - 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển số: 54V2-4088, xác minh chủ sở hữu là anh Trần Thanh B, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Trần Thanh B.
- - 01 điện thoại Redmi 130, 01 áo thun ngắn tay màu trắng có cổ, 01 quần Jeans màu đen (thu giữ của T).
- - 01 USB có chứa hình ảnh Nguyễn Văn T thực hiện hành vi trộm xe mô tô hiệu Honda Wave, màu trắng, biển số: 54V2-4088 tại địa chỉ số A đường T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (lưu theo hồ sơ vụ án).
* Về trách nhiệm dân sự:
- - Anh Trần Thanh B đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm.
- - Ông Nguyễn Đức H có yêu cầu bồi thường dân sự số tiền 12.499.000 đồng.
Tại Cáo trạng số: 65/CT-VKSTPTĐ ngày 15 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g Khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, khung hình phạt, điều luật áp dụng, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173 điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g Khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù đếm 03 (ba) năm tù.
- + Về xử lý vật chứng: Đề nghị trả lại cho bị cáo 01 điện thoại Redmi 130 nhưng vẫn tiếp tục giữ để đảm bảo thi hành án. Tịch thu đối với 01 áo thun ngắn tay màu trắng có cổ, 01 quần Jeans màu đen (thu giữ của T).
(Theo Biên bản giao nhận tang tài vật số 152C ngày 15 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát và luận tội của kiểm sát viên, bị cáo đồng ý với kết luận giám định, với các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng, không có ý kiến gì khác. Bị cáo không tranh luận.
Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận tôi và đã biết lỗi của mình, rất mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về chăm sóc gia đình và làm lại từ đầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hội đồng xét xử, nhận thấy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện tuận thủ theo đúng pháp luật quy định.
[2] Về nội dung: Trong quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội, kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử, có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 29/9/2022, tại phòng trọ số C thôn Đ, xã N, huyện V, tỉnh Hưng Yên, Nguyễn Văn T đã lén lút chiếm đoạt 02 căn cước công dân mang tên Nguyễn Đức H, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Poco C40, màu xanh, đã qua sử dụng trị giá 2.999.000 đồng và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RS, màu đỏ đen bạc, biển số: 29V5 – 9021 đã qua sử dụng của ông Nguyễn Đức H trị giá 9.500.000 đồng.
Ngày 02/10/2024, tại trước cửa hàng V1, địa chỉ số A đường T, Khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Văn T đã lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô hiệu Honda Wave RSX, màu trắng, mang biển số 54V2-4088 của anh Trần Thanh B trị giá: 6.967.000 đồng.
Tổng trị giá tài sản Nguyễn Văn T chiếm đoạt là 19.466.000 đồng.
[3] Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Đức H có yêu cầu bồi thường dân sự số tiền 12.499.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T đồng ý bồi thường số tiền nêu trên cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Đức H.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về các tình tiết tăng nặng: Bị can Nguyễn Văn T phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021.
Về các tình tiết giảm nhẹ: Xét trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[5] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hình phạt đối với bị cáo:
Hội đồng xét xử đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo T là nghiêm trọng, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi phạm tội của bị cáo T là cố ý, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được nhà nước bảo vệ, hành vi phạm tội của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Bị cáo đã có tiền án, đã chấp hành án nhưng không sửa chữa bản thân thành công dân tốt mà vẫn tiếp tục con đường phạm tội nên cần phải xử phạt bị cáo T với mức án tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo nói riêng và đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung trong toàn xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Không có.
[7] Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, xét:
Đối với 01 điện thoại Redmi 130 của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy cần trả lại cho bị cáo nhưng vẫn tiếp tục giữ để đảm bảo thi hành án.
Đối với 01 áo thun ngắn tay màu trắng có cổ, 01 quần Jeans màu đen (thu giữ của T) là những vật chứng đã hết giá trị sử dụng. Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu tiêu hủy.
(Theo Biên bản giao nhận tang tài vật số 152C ngày 15 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh).
[8] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn T, bị hại có quyền kháng cáo bản án này theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Áp dụng điểm g Khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Áp dụng điểm g Khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T bồi thường cho Ông Nguyễn Đức H số tiền 12.499.000 đồng.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Nguyễn Văn T được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/10/2024.
Trả lại 01 điện thoại Redmi 130 cho bị cáo nhưng vẫn tiếp tục giữ để đảm bảo thi hành án.
Tịch thu tiêu hủy 01 áo thun ngắn tay màu trắng có cổ, 01 quần Jeans màu đen.
(Theo Biên bản giao nhận tang tài vật số 152C ngày 15 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh).
Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 624.950 (sáu trăm hai mươi bốn nghìn, chín trăm năm mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Chí Quang |
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 77/2025/HS-ST ngày 19/02/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức – Thành phố Hồ Chí Minh về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 77/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức – Thành phố Hồ Chí Minh
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
