Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 77/2025/HS-ST

Ngày: 19-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Đặng Hồng Sơn
  • Thẩm phán: Bà Đoàn Thị Hương Giang
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Ông Trần Văn Triều
    2. Ông Nguyễn Tùng
    3. Bà Nguyễn Thị Ngọc Thanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Trung Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết Mai - Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 1049/2024/TLST-HS ngày 10/12/202theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 320/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Huỳnh Thục Â; giới tính: Nữ; sinh ngày 01 tháng 6 năm 1988, tại Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: 1 P, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở trước khi bị bắt: 2 P, Phường D, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Hoa; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Nguyên thủ quỹ Nhà hàng Á; con ông Huỳnh Kim M, sinh năm 1948 và bà Lâm A M1, sinh năm 1950; bị cáo có một người em, sinh năm 1990 và chưa có chồng, con; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 17/10/2024 đến nay tại Trại tạm giam C, Công an Thành phố H. (Có mặt tại phiên tòa)

- Người bào chữa cho bị cáo:

  1. Ông Nguyễn Thành C, Luật sư thuộc Công ty L1, Đoàn Luật sư Thành phố H. (Có mặt tại phiên tòa)
  2. Ông Nguyễn Trung C1, Luật sư thuộc Công ty L2, Đoàn Luật sư Thành phố H. (Có mặt tại phiên tòa)

- Bị hại: Công ty Cổ phần D

Địa chỉ trụ sở chính: G T, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh,

Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Thành Đông P, sinh năm 1977, Chức vụ: Tổng giám đốc. (Vắng mặt tại phiên tòa)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Trần Ỷ M2, sinh năm 1963, Trú tại: A L, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt tại phiên tòa)
  2. Phạm Thị Kim N, sinh năm 1983, Hộ khẩu thường trú: C đường số A, Phường H, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Trú tại: 123/15/24/3 TTH21, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt tại phiên tòa)
  3. Nguyễn Trần Mỹ P1, sinh năm 1982, Trú tại: 1 H, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt tại phiên tòa)
  4. Ông Trần Hồng K, sinh năm 1980, Trú tại:A bis C, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt tại phiên tòa)
  5. Â, sinh năm 1952, Trú tại:E N, Phường G, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt tại phiên tòa)
  6. Thái Thị Cẩm V, sinh năm 1979, Trú tại: A T, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt tại phiên tòa)
  7. Ngô Ngọc L, sinh năm 1979, Trú tại: A P, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt tại phiên tòa)
  8. Bà Lâm A M1, sinh năm 1950, Trú tại: 2 P, Phường D, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Công ty Cổ phần D (gọi tắt là Công ty D) được Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H cấp Giấy Chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 0308123011, lần đầu ngày 19/5/2006 (là doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa theo quyết định số 6096/QĐ-UBND, ngày 02/12/2005 của Ủy ban nhân dân Thành phố H) theo danh sách cổ đông tính đến ngày 24/11/2023, cổ đông là doanh nghiệp nhà nước sở hữu 13.33% vốn điều lệ và các tổ chức, cá nhân khác không là doanh nghiệp nhà nước sở hữu 86,67% vốn điều lệ; Công ty D có đăng ký địa điểm kinh doanh Nhà hàng Ái Huê và được Sở Kế hoạch đầu tư Thành phố H cấp mã số địa điểm kinh doanh: 00006, ngày 19/7/2017. Người đại diện pháp luật của Công ty D và địa điểm kinh doanh Nhà hàng Á đều do ông Võ Thành Đông P là đại diện với chức danh Tổng giám đốc.

Huỳnh Thục  bắt đầu làm việc tại Nhà hàng Á (địa chỉ: 4 T, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh, sau đây gọi tắt là Nhà hàng) là địa điểm kinh doanh của Công ty D từ tháng 04/2018, theo Hợp đồng lao động do ông Võ Thành Đông P, Tổng Giám đốc Công ty D ký ngày 01/4/2020 thì Huỳnh Thục  được tuyển dụng chức danh nhân viên kế toán Nhà hàng, loại Hợp đồng lao động không xác định thời hạn.

Tháng 9/2018,  được bà Trần Ỷ M2 (Giám đốc Nhà hàng) và bà Phạm Thị Kim N (Kế toán trưởng Nhà hàng) giao nhiệm vụ làm Thủ quỹ. Ngày 07/9/2018, bà N đã bàn giao số tiền quỹ kinh doanh thực tế của Nhà hàng 1.760.601.087 đồng, 02 chìa khóa két sắt và mật khẩu két sắt cho Huỳnh Thục  quản lý. Đến ngày 13/9/2018, bà N tiếp tục bàn giao số tiền 59.760.000 đồng tiền quỹ Pour (tiền phúc lợi cho nhân viên có được từ việc nhận tiền bồi dưỡng của khách và tiền bán ve chai các loại).

Huỳnh Thục  có trách nhiệm quản lý quỹ tiền mặt và công tác khác của tổ kế toán theo sự phân công của Kế toán trưởng, cụ thể: Nhận tiền mặt từ các nguồn thu và bảo quản trong 01 két sắt tại Nhà hàng để phục vụ việc chi tiền cho các hoạt động phát sinh của Nhà hàng theo yêu cầu của Kế toán trưởng và hàng tháng nộp tiền mặt công nợ vào tài khoản Công ty D. Thực hiện các nghiệp vụ thu, chi theo quy định và theo phân công của Kế toán trưởng.

Quá trình làm việc, Huỳnh Thục  nhận thấy Nhà hàng không quản lý quỹ tiền mặt chặt, không thường xuyên kiểm tra quỹ tiền mặt trong két sắt của Nhà hàng trong khi chìa khóa két sắt và mật khẩu do Ân quản lý (không có ai khác có thể mở được két sắt) nên  nảy sinh ý định lấy tiền quỹ của Nhà hàng để tiêu xài cá nhân. Huỳnh Thục  bắt đầu lấy tiền của Nhà hàng từ tháng 4/2022 đến ngày 09/6/2023 thì bị phát hiện.  lấy tiền quỹ của Nhà hàng với số lượng tiền mỗi lần khác nhau (từ 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng). Đến khi Công ty D hoặc Nhà hàng yêu cầu kiểm tra quỹ tiền mặt thì Huỳnh Thục  dựa vào sổ quỹ tiền mặt để hoàn lại đủ số tiền trong két sắt theo sổ quỹ. Hàng năm, Công ty D sẽ tiến hành kiểm tra quỹ tiền mặt 01 lần vào ngày cuối cùng của năm dương lịch, theo đó lần cuối Công ty D kiểm tra quỹ tiền mặt là vào ngày 31/12/2022. Sau đó, Huỳnh Thục  bắt đầu lấy tiền nhiều lần với số tiền lớn hơn (từ 200.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng).

Tháng 5/2023, khi làm báo cáo công nợ cho Công ty D, Phạm Thị Kim N phát hiện tháng 4/2023  chỉ nộp công nợ về cho Công ty D 01 lần với số tiền 100.000.000 đồng (trong khi hàng tháng số tiền công nợ của Nhà hàng nộp về cho Công ty D khoảng 1.000.000.000 đồng), nghi ngờ  chiếm đoạt tiền của Nhà hàng nên N yêu cầu  báo cáo số tiền thực tế thu, chi và tồn tháng 4/2023 cho N, theo báo cáo của  thì thu ít và chi nhiều nên tồn quỹ chỉ còn mấy chục triệu. Ngày 09/6/2023, N làm báo cáo tài chính tháng 5/2023 thấy số tồn quỹ tại Nhà hàng là trên 2.000.000.000 đồng, N tiếp tục yêu cầu  báo cáo thu chi tháng 5/2023 thì  báo tồn quỹ thực tế còn khoảng 500.000.000 đồng do  chưa thu tiền từ Trần Ỷ Minh số tiền hơn 1.900.000.000 đồng (do M2 đi Mỹ). N hỏi lại Âu H (người được bà M2 ủy quyền khi đi Mỹ) thì H báo Ân có thu tiền mặt đến ngày 02/6/2023. Ngày 09/6/2023, Phạm Thị Kim N cùng với nhân viên kế toán Nguyễn Trần Mỹ P1 yêu cầu Huỳnh Thục  mở két sắt Nhà hàng Á do Ân quản lý để kiểm tra quỹ tiền mặt. Kết quả kiểm tra: Quỹ tiền mặt kinh doanh của nhà hàng còn lại là: 15.053.000 đồng. Thực tế số tiền mặt mà Nhà hàng giao cho  quản lý đến thời điểm hiện tại là số tiền: 2.374.592.523 đồng, thiếu số tiền 2.359.539.523 đồng; Tiền mặt quỹ P2 (tiền quỹ phúc lợi của nhân viên, thu từ các nguồn khác do khách bồi dưỡng...) không liên quan đến hoạt động của nhà hàng là 0 đồng, song thực tế số tiền mặt quỹ Pour giao cho  quản lý đến thời điểm hiện tại là 187.927.000 đồng, thiếu số tiền quỹ P2 là 187.927.000 đồng. Tổng cộng số tiền mặt trong két sắt bị thiếu là 2.547.466.523 đồng và Huỳnh Thục  đã khai nhận chiếm đoạt toàn bộ số tiền nêu trên để tiêu xài cá nhân.

Sau nhiều lần làm việc yêu cầu Ân trả lại tiền cho Nhà hàng thì ngày 11/7/2023, Huỳnh Thục  nộp lại cho Công ty D 50.000.000 đồng và ngày 29/7/2023,  nộp tiếp số tiền 30.000.000 đồng. Do  không trả lại số tiền đã chiếm đoạt nên ngày 02/9/2023, Công ty D nộp đơn trình báo sự việc Huỳnh Thục  có hành vi “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” đến Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 18/9/2023, tại nhà hàng Á, Huỳnh Thục  đã hoàn trả đủ số tiền 2.467.470.000 đồng cho Công ty D.

Quy trình quản lý quỹ tiền mặt và tài sản của Nhà hàng Á được thực hiện như sau: Ngày 14/6/2018, ông Võ Thành Đông P ký Quyết định ban hành quy định chức năng, nhiệm vụ các phòng ban trong công ty, gồm các nội dung: Phòng Tài chính – Kế toán tổ chức thực hiện, quản lý giám sát công tác tài chính, kế toán của toàn công ty; Nhà hàng Á chịu trách nhiệm báo cáo các hoạt động quản lý kinh doanh theo tháng, quý và năm (không có quy định chi tiết về việc bảo quản tài sản và thời gian cụ thể kiểm kê quỹ tiền mặt).

Quá trình hoạt động thực hiện như sau: Nhà hàng có lập 02 quỹ tiền mặt, gồm: Quỹ tiền mặt kinh doanh, thu từ nguồn kinh doanh của Nhà hàng Á dùng để chi cho hoạt động kinh doanh nhà hàng, chuyển một phần doanh thu của mỗi tháng về Công ty D. Đối với quỹ tiền mặt kinh doanh, Nhà hàng thực hiện báo cáo hoạch toán phụ thuộc, báo cáo tài chính và quỹ tiền mặt mỗi tháng về Công ty D. Sau đó, Công ty D sẽ kiểm tra đối chiếu sổ quỹ tiền mặt (do thủ quỹ lập) và hệ thống kế toán F (do kế toán tiền mặt nhập số liệu), thực hiện việc kiểm tra quỹ tiền mặt thực tế cuối năm; Quỹ tiền mặt “Pour” thu từ nguồn khách hàng bồi dưỡng cho nhân viên, hoặc từ việc bán phế liệu của nhà hàng và sử dụng cho việc phúc lợi cuối năm cho nhân viên.

Theo đó, ông P giao trách nhiệm quản lý tài sản chung của Nhà hàng cho bà Trần Ỷ M2, giám đốc Nhà hàng chịu trách nhiệm quản lý. Bà Phạm Thị Kim N là kế toán trưởng chịu trách nhiệm báo cáo tài chính, quỹ tiền mặt. Bà M2 và bà N giao nhiệm vụ cho Huỳnh Thục  là thủ quỹ, quản lý tiền mặt của hai quỹ tiền mặt trên và bảo quản trong két sắt đặt tại nhà hàng Á. Ân là người được giao giữ toàn bộ chìa khóa két sắt và mật khẩu két sắt do  đặt và quản lý. Hàng tháng,  phải báo cáo số tiền quỹ tồn tại két sắt để Phạm Thị Kim N và bà Trần Ỷ M2 kiểm tra ký xác nhận số tiền tồn trên sổ quỹ tiền mặt, đồng thời ký vào biên bản kiểm tra quỹ hàng tháng để nộp về Công ty D. Tuy nhiên do tin tưởng, bà M2 và bà N không kiểm tra tiền quỹ thực tế mà ký hợp thức hóa hồ sơ để nộp về công ty D.

Về quy trình quản lý quỹ tiền mặt kinh doanh hàng ngày, Huỳnh Thục  có trách nhiệm gặp bà Nguyễn Trần Mỹ P1 (kế toán tiền mặt của Nhà hàng) để nhận phiếu thu tiền mặt (02 phiếu nội dung như nhau và trên phiếu có thể hiện số tiền mặt cần thu); sau đó  cầm phiếu thu tiền mặt trên đến gặp bà Trần Ỷ M2 để nhận số tiền mặt theo phiếu thu trên; khi đó bà M2 trích tiền từ số tiền nhận được từ kế toán quầy (doanh thu của ngày hôm trước) để đưa cho Â, bà M2 giữ lại 01 phiếu thu tiền mặt; sau khi nhận được tiền từ bà M2,  mang số tiền đó bỏ vào két sắt để bảo quản và 01 phiếu thu tiền mặt còn lại thì  tự giữ để nhập báo cáo sổ quỹ. Đến thời gian cuối tháng thì  có trách nhiệm làm báo cáo bằng văn bản đối với số tiền thực tế đã thu – đã chi trong tháng cùng số tồn tiền mặt thực tế tại két sắt Nhà hàng để trình bà Phạm Thị Kim N và bà Trần Ỷ M2 kiểm tra, ký nhận.

Đối với quỹ tiền mặt “Pour” được quản lý như sau: Khi phát sinh tiền này, kế toán quầy là Ngô Ngọc L và Thái Thị Cẩm V bàn giao số tiền thu được cho Huỳnh Thục  ký nhận và quản lý tiền, đến cuối mỗi tháng, số tiền quỹ “Pour” sẽ được Huỳnh Thục  trích một phần để chia cho toàn bộ nhân viên. Số tiền còn lại sẽ tiếp tục ghi nhận vào sổ quỹ cho tháng sau.

Cả hai nguồn quỹ này do Huỳnh Thục  quản lý và bảo quản trong két sắt tại Nhà hàng Á. Quá trình điều tra Huỳnh Thục  khai nhận do cần tiền tiêu xài và trả nợ nên  đã chiếm đoạt số tiền 2.547.466.523 đồng của Nhà hàng do Huỳnh Thục  được giao quản lý nêu trên. Sau khi chiếm đoạt tiền, Huỳnh Thục  đã tiêu xài cá nhân và trả nợ hết. Khi Nhà hàng phát hiện và Công ty D đòi tiền thì  đã vay mượn tiền của người thân để hoàn trả lại toàn bộ số tiền trên cho Công ty D.

- Ông Võ Thành Đông P khai: Nhà hàng Á là địa điểm kinh doanh của Công ty D, do ông P là người đại diện pháp luật. Đối với vấn đề nhân sự, Công ty D giao cho bà Trần Ỷ M2 giám đốc Nhà hàng quản lý, phân công công việc, tổ chức hoạt động kinh doanh của Nhà hàng, theo đó Huỳnh Thục  được công ty T, ký kết hợp đồng lao động và giao làm công việc thủ quỹ Nhà hàng. Công ty không có quy trình kiểm tra quỹ tiền mặt tại Nhà hàng. Tuy nhiên, việc báo cáo và kiểm tra quỹ tiền mặt được Nhà hàng báo cáo theo từng tháng về Phòng Tài chính kế toán và cuối mỗi năm Công ty D đều cử nhân viên đến kiểm tra tiền quỹ tiền mặt thực tế tại Nhà hàng.

- Bà Trần Ỷ M2 khai: Ngày 27/01/2007, bà M2 được ông P ký Quyết định bổ nhiệm chức vụ là Giám đốc tại Nhà hàng Á. Nhiệm vụ được phân công theo bản mô tả công việc là quản lý toàn bộ hoạt động kinh doanh của Nhà hàng, quản lý về nhân sự, phối hợp với phòng kế toán để quản lý tài sản Nhà hàng.... Năm 2018, do thiếu vị trí thủ quỹ, bà N (Kế toán trưởng) báo cáo miệng với bà M2 về việc giao nhiệm vụ thủ quỹ cho Huỳnh Thục  là nhân viên kế toán, bà M2 tin tưởng  nên đồng ý. Công việc hàng ngày của  là cầm phiếu thu tiền mặt đến gặp bà M2 để nhận tiền và đem cất vào két sắt, khi có các khoản chi phát sinh thì  sẽ thanh toán. Cuối tháng,  phải báo cáo bằng văn bản số tiền thực tế đã thu, chi trong tháng và số tồn tiền mặt thực tế tại két sắt để trình bà N kiểm tra, ký nhận và sau đó tiếp tục trình cho bà M2 kiểm tra, ký nhận. Việc kiểm tra quỹ tiền mặt, bà M2 không thực tế kiểm tra mà giao cho N tự thực hiện và trình cho bà M2 ký xác nhận. Sau khi bà M2 đi Mỹ về, biết việc  chiếm đoạt tiền của Nhà hàng thì M2 có ký vào Biên bản kiểm tra két sắt ngày 09/6/2023 để nộp hồ sơ về cho Công ty D (thực tế thời điểm kiểm tra két sắt thì M2 không có mặt ở Việt Nam mà đang đi Mỹ chăm con bệnh).

- Bà Phạm Thị Kim N khai: Bà N ký hợp đồng lao động với Công ty D từ tháng 6/2013 và được bổ nhiệm làm nhân viên thủ quỹ, làm việc tại Nhà hàng Á. Đến tháng 7/2016, bà N được bổ nhiệm là Kế toán trưởng của Nhà hàng. Huỳnh Thục  là nhân viên kế toán do bà N quản lýSố tiền tôi bị các đối tượng lừa đảo (chưa rõ lai lịch) chiếm đoạt là 471.435.000 đồng (tiền cá nhân của tôi). Tài khoản 902043770400002, mở tại Ngân hàng N1 – Chi nhánh A là của tôi. Vào các ngày 07/9/2018 và 13/9/2018, N có bàn giao 1.820.361.087 đồng tiền mặt và 02 chìa khóa của két sắt đựng tiền quỹ Nhà hàng cho Huỳnh Thục  và hướng dẫn để  tự đổi mật khẩu và quản lý tiền trong két sắt. Quá trình thực hiện chế độ báo cáo tài chính kiểm tra quỹ tiền mặt, N không thực hiện việc kiểm tra quỹ tiền mặt hàng tháng mà do  tự kiểm tra và báo cáo.

- Bà Nguyễn Trần Mỹ P1 (nhân viên kế toán) khai: Hàng ngày, P1 dựa vào dữ liệu trên phần mềm kế toán của Nhà hàng để làm phiếu thu và phiếu chi cho các hoạt động kinh doanh của Nhà hàng, sau đó P1 đưa phiếu thu tiền mặt cho Huỳnh Thục  để  đến gặp bà Trần Ỷ M2 lấy tiền mang về bảo quản trong két sắt của Nhà hàng Á. Ngày 09/6/2023, Phạm Thị Kim N yêu cầu phối hợp kiểm tra quỹ tiền mặt trong két do  quản lý thì phát hiện  chiếm đoạt số tiền 2.547.466.523 đồng. P1 là người duy nhất được giao quyền truy cập vào hệ thống kế toán Fast của Công ty D, nhập kết quả số liệu kinh doanh của Nhà hàng. Kết quả trích xuất dữ liệu từ hệ thống Fast phù hợp với số tiền quỹ mà Huỳnh Thục  đã chiếm đoạt.

- Bà Âu H (nhân viên kế toán quầy) khai: Khoảng cuối tháng 4/2023, bà Trần Ỷ M2 đi qua Mỹ chăm sóc con bệnh nên ủy quyền cho H quản lý tiền doanh thu hàng ngày của Nhà hàng và đưa tiền cho Huỳnh Thục  theo các phiếu thu tiền mặt của phòng kế toán. Hàng ngày, khi  cầm phiếu thu tiền mặt đến gặp H thì H sẽ trích tiền doanh thu để đưa cho  theo số tiền ghi trên phiếu và đã chi đến ngày 02/6/2023.

Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành cho Huỳnh Thục Â, Trần Ỷ M2, Phạm Thị Kim N, Nguyễn Trần Mỹ P1 và Âu H tiến hành đối chất xác nhận quy trình giao nhận tiền giữa các bên, nội dung phù hợp với kết quả điều tra nêu trên.

-Xác minh tại Công ty D: Công ty cung cấp các Biên bản kiểm kê quỹ tiền mặt hàng tháng và Sổ chi tiết quỹ tiền mặt từ ngày 01/9/2018 đến 30/6/2023; bảng kê hóa đơn giá trị gia tăng hàng hóa bán ra của Nhà hàng Á; Hợp đồng lao động, Quyết định bổ nhiệm của Trần Ỷ M2, Phạm Thị Kim N; Bảng mô tả công việc của Thủ quỹ, Kế toán trưởng và Kế toán Công ty; Đối với quy trình kiểm kê quỹ tiền mặt thì Công ty D và Nhà hàng Á không ban hành. Kết quả đối chiếu số tiền  chiếm đoạt phù hợp với số tiền trên sổ quỹ, báo cáo tài chính và trên tổng số hóa đơn giá trị gia tăng mà Nhà hàng Á đã xuất bán cho khách hàng.

-Kết quả tra cứu tiền án tiền sự tại PC06, xác minh tại Công an P3, Quận E và Công an P4, Quận F xác định: Huỳnh Thục  có hộ khẩu thường trú tại số A P, Phường A, Quận E nhưng không thực tế cư ngụ tại địa phương, nhà đã bán và Huỳnh Thục  đang thực tế cư ngụ tại số B P, Phường D, Quận F từ ngày 08/7/2023 đến nay, hiện Huỳnh Thục  chưa có tiền, án tiền sự gì.

-Kết quả xác minh tài khoản ngân hàng: Huỳnh Thục  có mở tài khoản số [...] tại Ngân hàng V1 Chi nhánh Khu công nghiệp T, tài khoản số [...] tại V1 Chi nhánh E - Thành phố Hồ Chí Minh; tài khoản số 0251002739750 tại V2 - Chi nhánh S và trong tài khoản nêu trên không có thông tin giao dịch liên quan đến số tiền Ân chiếm đoạt của Nhà hàng Á thuộc Công ty D.

-Kết quả trưng cầu giám định: Ngày 15/10/2024, Phòng K1 Công an Thành phố H có kết luận giám định số 10601/KL-KTHS, kết luận chữ ký của Huỳnh Thục Â, Phạm Thị Kim N, Trần Ỷ M2 trên các biên bản kiểm tra quỹ tiền mặt; sổ quỹ tiền mặt của Công ty và biên bản bàn giao quỹ:

“1. Chữ ký, chữ viết họ tên Huỳnh Thục A dưới mục "Thủ quỹ” trên tài liệu cần giám định ký hiệu từ A1 đến A4 (đã nêu ở mục II.1) so với chữ ký, chữ viết của Huỳnh Thục  trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M4 (đã nêu ở mục II.2) do cùng một người ký, viết ra.

2. Không đủ cơ sở kết luận chữ ký đứng tên Phạm Thị Kim N dưới mục "Kế toán trưởng" trên tài liệu cần giám định ký hiệu từ A1 đến 44 (đã nêu ở mục II.1) so với chữ ký đứng tên Phạm Thị Kim N trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M5 (đã nêu ở mục II.2) có phải do cùng một người ký ra hay không.

3. Không đủ cơ sở kết luận chữ ký đứng tên Trần Ỷ M2 dưới mục "Giám đốc" trên tài liệu cần giám định ký hiệu từ A1 đến A4 (đã nêu ở mục II.1) so với chữ ký đứng tên Trần Ỷ M2 trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M6 (đã nêu ở mục II.2) có phải do cùng một người ký ra hay không”.

-Kết quả trưng cầu giám định: Ngày 03/10/2024, Phòng K1 Công an Thành phố H có kết luận giám định số 10599/KL-KTHS, kết luận giám định 01 CPU máy tính do Nhà hàng Á cung cấp: “Với trang thiết bị hiện có, Phòng K1 - Công an Thành phố H đã trích xuất dữ liệu trong mẫu cần giám định ký hiệu A1 và A2 (đã nêu tại Mục II.1) theo yêu cầu nêu tại mục III, cụ thể như sau:

1. Đã trích xuất được 2,71 (hai phẩy bảy mươi mốt) GB dữ liệu trong ổ cứng ký hiệu A1.

2. Đã trích xuất được 4,09 (bốn phẩy không chín) GB dữ liệu trong ổ cứng ký hiệu A2.

Chi tiết dữ liệu được lưu trong thiết bị lưu trữ kèm theo.

Kèm theo kết luận giám định: 01 thiết bị lưu trữ chứa dữ liệu thu được từ các mẫu cần giám định”.

* Vật chứng thu giữ trong vụ án: 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 10+, được niêm phong trong 01 bìa thư có chữ ký Huỳnh Thục Â; 01 CPU máy tính được niêm phong có chữ ký giám định viên và điều tra viên; 01 ổ cứng di động.

* Về trách nhiệm dân sự: Từ ngày 10/6/2023 đến ngày 18/9/2023 Huỳnh Thục  đã giao nộp khắc phục toàn bộ số tiền 2.547.466.523 đồng  chiếm đoạt cho Công ty D. Đến ngày 20/9/2023, ông Võ Thành Đông P có đơn xin rút đơn trình báo do  đã nộp lại toàn bộ số tiền khắc phục hậu quả và không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

*Tại Bản cáo trạng số: 738/CT-VKS-P3 ngày 19 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Huỳnh Thục  về tội “Tham ô tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 353 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

*Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay:

- Bị cáo Huỳnh Thục  đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.

- Đại diện của Công ty Cổ Phần D vắng mặt và có đơn trình bày: Do Huỳnh Thục  đã giao nộp khắc phục toàn bộ số tiền 2.547.466.523 đồng đã chiếm đoạt cho Công ty D, nên Công ty không có yêu cầu bồi thường gì thêm khác, đồng thời đề nghị xét xử miễn hình phạt cho bị cáo theo quy định tại Điều 59 Bộ luật hình sự.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, các lời khai có trong hồ sơ vụ án phù hợp với nội dung bản Cáo trạng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm kết luận vụ án: Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, hậu quả của tội phạm mà bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung truy tố bị cáo Huỳnh Thục  về tội “Tham ô tài sản”. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 4 Điều 353; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Huỳnh Thục  mức án từ 15 đến 16 năm tù.

Đồng thời đề nghị xử lý vật chứng, quyền kháng cáo và các vấn đề khác của vụ án theo quy định pháp luật.

- Bị cáo không có ý kiến tranh luận và đề nghị Luật sư trình bày lời bào chữa.

- Luật sư Nguyễn Thành C trình bày bào chữa cho bị cáo: Luật sư thống nhất với nội dung bản Cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội “Tham ô tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 353 Bộ luật hình sự, cũng như các tình tiết giảm nhẹ mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị tại phiên tòa. Song, xét về nhân thân thì bản thân bị cáo chưa lập gia đình, hiện là lao động chính đang trực tiếp nuôi dưỡng cha là ông Huỳnh Kim M đang bị bệnh nặng, là người tàn tật, mất thị lực và bệnh huyết áp cao; mẹ bị cáo là bà Lâm A M1 hiện nay cũng bị bệnh xương khớp nặng đi lại bất tiện, toàn bộ gia đình bị cáo 05 người đang sống tại một căn phòng trọ chật hẹp, điều kiện sinh hoạt thiếu thốn nên bị cáo đã vay mượn tiền ngoài xã hội dẫn đến không trả được nợ và lãi suất, đây cũng là nguyên nhân mà bị cáo phạm tội. Khi sự việc bị phát hiện thì bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đồng thời đã khắc phục toàn bộ thiệt hại cho Công ty D. Như vậy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên theo quy định tại điểm d Điều 5 Nghị quyết số 03/2020/NQ-HĐTP ngày 30/12/2020 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, luật sư đề nghị áp dụng chính sách khoan hồng đặc biệt để miễn hình phạt cho bị cáo theo quy định tại Điều 59 Bộ luật Hình sự.

- Luật sư Nguyễn Trung C1 trình bày bào chữa cho bị cáo: Luật sư thống nhất với quan điểm bào chữa của luật sư đồng nghiệp, ngoài ra, xét về ý thức chủ quan thì bị cáo hoàn toàn không có ý định chiếm đoạt tiền của công ty mà bị cáo chỉ mượn tiền của công ty rồi lại trả lại, cho đến khi hết khả năng trả lại cho Công ty thì mới bị phát hiện. Số tiền bị cáo chiếm đoạt của công ty đã được cộng lại để truy tố theo điểm a, khoản 4 Điều 353 Bộ luật Hình sự, nhưng mỗi lần không đủ định lượng 1.000.000.000 đồng nên đề nghị không áp dụng tình tiết tăng nặng theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, từ đó luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn hình phạt cho bị cáo hoặc xét xử bị cáo mức án thấp nhất.

- Bị cáo Huỳnh Thục  đồng ý với nội dung bào chữa của các Luật sư, không bào chữa bổ sung và xin được giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội làm lại cuộc đời.

- Đại diện theo ủy quyền của bị hại và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa không có ý kiến tranh luận.

- Đại diện Viện kiểm sát đối đáp: Cơ bản các luật sư đều đồng ý với tội danh, cũng như các tình tiết giảm nhẹ mà Viện kiểm sát đã nêu, song không chấp nhận lời trình bày của luật sư về việc không áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội “Hai lần trở lên”, ngoài ra, trong vụ án này bị cáo tự mình phạm tội, không phải là đồng phạm trong vụ án có nhiều bị cáo nên không có cơ sở áp dụng điểm d Điều 5 Nghị quyết số 03/2020/NQ-HĐTP ngày 30/12/2020 của Hội đồng thẩm phám Tòa án nhân dân tối cao. Từ đó, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã luận tội.

Qua nội dung đối đáp, Luật sư và đại diện Viện kiểm sát đều giữ nguyên quan điểm đã trình bày và cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét ra Bản án đúng theo các quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Qua thẩm tra xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, bị cáo Huỳnh Thục  đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như biên bản khám xét, biên bản thu giữ đồ vật, tài liệu; biên bản xác minh, lời khai của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản đối chất, biên bản xác minh, cũng như các kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ của vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Vì mục đích vụ lợi, Huỳnh Thục  là nhân viên Kế toán của Nhà hàng Á thuộc Công ty Cổ Phần D, được giao công việc làm nhân viên Thủ quỹ từ ngày 07/9/2018. Theo đó, Huỳnh Thục  có nhiệm vụ quản lý quỹ tiền mặt và bảo quản trong két sắt tại Nhà hàng Á, lợi dụng nhiệm vụ được giao trong qua trình làm việc, Huỳnh Thục  nhận thấy Nhà hàng Á không quản lý quỹ tiền mặt chặt chẽ, không thường xuyên kiểm tra quỹ tiền mặt trong két sắt nên đã nảy sinh lòng tham. Từ tháng 04/2023 đến tháng 06/2023, Huỳnh Thục  đã chiếm đoạt số tiền mặt trong két sắt do  có trách nhiệm quản lý của Nhà hàng Á với tổng số tiền là 2.547.466.523 đồng (trong đó có 2.359.539.523 đồng là quỹ kinh doanh của Nhà hàng Á và 187.927.000 đồng là tiền từ quỹ phúc lợi, quỹ “Pour” của Nhà hàng Á) để sử dụng vào mục đích cá nhân.

Do đó, hành vi của bị cáo Huỳnh Thục  là người được giao nhiệm vụ kế toán viên kiêm Thủ quỹ quản lý quỹ tiền mặt của Nhà hàng Ái Huê của Công ty Cổ Phần D, đã lợi dụng nhiệm vụ, quyền hạn được giao để chiếm đoạt tài sản, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tham ô tài sản” thuộc trường hợp “Chiếm đoạt tài sản trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 4 Điều 353 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[2] Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình nhưng do lười lao động, đồng thời để có tiền nhằm phục vụ lợi ích cá nhân mà bị cáo đã bất chấp pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của doanh nghiệp được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương, thể hiện ý thức coi thường và bất chấp pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng: Số tiền bị cáo Huỳnh Thục  chiếm đoạt của bị hại nhiều lần đã được cộng lại để định khung hình phạt, ngoài các lần bị cáo chiếm đoạt có giá trị 1.000.000.000 đồng trở lên, thì tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” còn căn cứ vào nhân thân và thái độ chấp hành pháp luật của bị cáo và không trái với quy định tại khoản 2 Điều 52 Bộ luật Hình sự, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên”, quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Huỳnh Thục  có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đồng thời đã bồi thường lại toàn bộ số tiền mà bị cáo đã chiếm đoạt của Công ty D; bị cáo phạm tội chưa có tiền án, tiền sự, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính có cha mẹ già yếu, tàn tật và được Công ty cổ phần D rút đơn đề nghị truy tố và xin miễn hình phạt cho bị cáo tại phiên tòa nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trên đây là các tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ để Hội đồng xét xử xem xét áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Do vậy, Hội đồng xét xử thấy bị cáo tuy chưa có tiền án, tiền sự, song hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, cần thiết phải xử bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo Huỳnh Thục  đã gây ra và phải buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại trại giam trong một thời gian nhất định để răn đe, phòng ngừa chung và cũng để bị cáo có thời gian tự rèn luyện trở thành người công dân lương thiện, có ích cho xã hội và biết tôn trọng pháp luật. Đồng thời, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 353 Bộ luật hình sự.

[3] Đối với bà Trần Ỷ M2 là Giám đốc Nhà hàng Á, có nhiệm vụ toàn quyền quyết định mọi hoạt động kinh doanh của Nhà hàng Á, phối hợp với Phòng kế toán quản lý tài sản nhà hàng và Phạm Thị Kim N là Kế toán trưởng, có nhiệm vụ phụ trách kế toán tổng hợp, báo cáo quyết toán, thực hiện các nguyên tắc tài chính, kiểm tra giám sát hoạt động thu chi, tổ chức quản lý điều hành hoạt động của phòng kế toán, hướng dẫn, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện công việc của nhân viên kế toán. Do Công ty D không có quy định cụ thể về trách nhiệm và thời gian kiểm tra quỹ tiền mặt tại Nhà hàng nên tại Nhà hàng việc kiểm tra quỹ tiền mặt hàng tháng do  tự kiểm tra và báo cáo. Tuy nhiên, qua quản lý phần mềm kế toán F đối chiếu với số tiền công nợ do  nộp về cho Công ty D thì N có kiểm soát được lượng tiền mặt tại Nhà hàng và khi phát hiện  không nộp đủ công nợ về Công ty D tháng 4/2023 thì N đã yêu cầu  đã mở két sắt để kiểm tra quỹ tiền mặt, ngay khi phát hiện Huỳnh Thục  chiếm đoạt tiền của Nhà hàng, N đã báo cáo lên Công ty D để xử lý nên không có căn cứ xem xét, xử lý Trần Ỷ M2 và Phạm Thị Kim N về hành vi “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” trong vụ án trên. Hội đồng xét xử thấy là phù hợp, nên không xem xét và đề cập đến.

[4] Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, cũng như lời phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc truy tố bị cáo về tội “Tham ô tài sản” theo điểm điểm a khoản 4 Điều 353 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và mức án đề nghị là có cơ sở để chấp nhận.

Lập luận trên đây cũng là cơ sở để chấp nhận lời bào chữa của các luật sư về các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, song không chấp nhận quan điểm về việc không áp dụng tình tiết tặng nặng phạm tội “Hai lần trở lên”, cũng như không chấp nhận đề nghị áp dụng điểm d Điều 5 Nghị quyết số 03/2020/NQ-HĐTP ngày 30/12/2020 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Điều 59 Bộ luật Hình sự để miễn hình phạt cho bị cáo.

[5] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an Thành phố H, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Đại diện theo ủy quyền của Công ty Cổ Phần D xác định Huỳnh Thục  đã giao nộp khắc phục toàn bộ số tiền 2.547.466.523 đồng đã chiếm đoạt cho Công ty D, nên Công ty không có yêu cầu bồi thường gì khác. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét và đề cập đến trong vụ án này.

[7] Về xử lý vật chứng thu giữ trong vụ án:

  • - 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 10+, được niêm phong trong 01 bìa thư có chữ ký Huỳnh Thục Â. Hội đồng xét xử thấy điện thoại không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo Huỳnh Thục Â.
  • - 01 (Một) CPU máy tính được niêm phong có chữ ký giám định viên và điều tra viên; 01 (một) ổ cứng di động thu giữ của Công Ty Cổ Phần D, xét đây là các tài sản hợp pháp nên trả lại cho công ty.

[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm quy định của pháp luật hiện hành.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo các quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 353; điểm g khoản 1 Điều 52; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,

Xử phạt bị cáo Huỳnh Thục Â: 15 (Mười lăm) năm tù, về tội “Tham ô tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/10/2024.

2/ Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.

3/ Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017; Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015,

  • - Trả lại cho bị cáo Huỳnh Thục Â: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 10+, được niêm phong trong 01 bìa thư có chữ ký Huỳnh Thục  (không kiểm đếm, kiểm tra bên trong niêm phong).
  • - Trả lại Công ty cổ phần D gồm: 01 (một) CPU máy tính được niêm phong có chữ ký giám định viên và điều tra viên (không kiểm đếm, kiểm tra bên trong niêm phong); 01 (một) ổ cứng di động.

(Vật chứng nêu trên được liệt kê theo Biên bản giao nhận tang vật số NK2025/117 ngày 05/12/2024 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh).

4/ Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và căn cứ Điều 22 và 23 Nghị quyết quyết định về mức thu, miễn giám, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, cùng danh mục án phí, lệ phí toà án của Ủy ban thường vụ Q1,

Bị cáo Huỳnh Thục  phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

5/ Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015,

Bị cáo, có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 19 tháng 02 năm 2025) để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Bị hại vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hoặc bản án được niêm yết.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo về quyền lợi ích hợp pháp của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7A, 7B và 9 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao; (1)
  • - TAND Cấp cao tại TPHCM; (1)
  • - VKSND TPHCM; (3)
  • - Cục THADS; (1)
  • - Sở Tư pháp; (1)
  • - Trại giam; (1)
  • - Bị cáo; (1)
  • - Bị hại; (1)
  • - Người CQLNVLQ; (8)
  • - Luật sư; (2)
  • - THAHS; (1)
  • - PV06 - CA TPHCM; (1)
  • - UBND nơi bị cáo cư trú; (1)
  • - Lưu: VT, THS, hồ sơ. (29) (6)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đặng Hồng Sơn

15

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 77/2025/HS-ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tham ô tài sản (embezzlement)

  • Số bản án: 77/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản (Embezzlement)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Thục  phạm tội tham ô tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger