|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 77/2025/HS-ST.
Ngày: 15/4/2025.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Tố Như
Thẩm phán: Bà Lê Thị Tân
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hương
Ông Trần Viết Ty
Ông Nguyễn Văn Lâm
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Phạm Trí Đôn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Phạm Mai Phương Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 55/2025/HSST ngày 06 tháng 3 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên Nguyễn Quỳnh T; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 13/10/1982; Nơi thường trú: SN A T, phường N, quận B, thành phố Hà Nội; CCCD số: [...]; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Hữu T1 và bà Phạm Thị H. Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Tại Bản án số 576/HSST ngày 05/5/1999, bị TAND, thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong ngày 03/12/2000, đã được xóa án tích.
- Tại Bản án số 64/2005/HSST ngày 28/4/2005, bị TAND, quận B, thành phố Hà Nội xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Chấp hành xong ngày 25/4/2007, đã được xóa án tích.
- Tại Bản án số 60/2011/HSST ngày 13/4/2011, bị TAND, quận C, thành phố Hà Nội xử phạt 48 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong ngày 22/5/2014, đã được xóa án tích.
- Tại Bản án số 240/2016/HSST ngày 15/11/2016, bị TAND, quận C, thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong ngày 25/7/2017, đã được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/9/2024 đến ngày 02/10/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Hiện có mặt tại phiên tòa.
2. Họ tên Dương Xuân K; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 10/11/1981; Nơi thường trú: 20/05/540 N, phường P, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở hiện tại: Phố P, thị trấn B, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; CCCD số: [...]; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Dương Văn C (đã chết) và bà Trần Thị Đ; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ tư; Vợ là Vũ Thị Thúy H1, sinh năm 1979; Bị cáo có hai con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2016.
Tiền án: 03
- Tại Bản án số 39/2013/HSST ngày 04/3/2013, bị TAND, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong ngày 01/9/2014, chưa được xóa án tích.
- Tại Bản án số 16/2016/HSST ngày 26/01/2016, bị TAND, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 33 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong ngày 28/4/2018, chưa được xóa án tích.
- Bản án số 335/2019/HSST ngày 22/11/2019 TAND thành phố Thanh Hóa xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong vào ngày 07/02/2024, chưa được xóa án tích.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/9/2024 đến ngày 02/10/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Hiện có mặt tại phiên tòa.
3. Họ tên Bùi Nhật H2; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 22/9/1987; Nơi thường trú: Số B T, TDP1, thị trấn T, huyện Q, Thanh Hóa; Nơi ở hiện tại: Số H L, TDP D, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; CCCD số: [...]; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Bùi Huy Đ1 và bà Nguyễn Thị T2; Gia đình bị cáo có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ tư; Vợ là Lê Thị Kim D, sinh năm 1986; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2020, con nhỏ sinh năm 2024.
Tiền án: Tại Bản án số 77/2023/HSST ngày 16/01/2023, bị TAND, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 08 tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”. Chấp hành xong ngày 09/7/2023, chưa được xóa án tích.
Tiền sự: Không
Nhân thân:
- Tại Bản án số 05/HSST ngày 12/01/2004 bị TAND, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
- Tại Bản án số 35/2005/HSST ngày 28/12/2005, bị TAND huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp với Bản án số 05/HSST ngày 12/01/2004 buộc Bùi Nhật H2 phải chấp hành hình phạt chung là 30 tháng tù, đã được xóa án tích.
- Tại Bản án số 17/HSST ngày 26/01/2010 bị TAND, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ngày 08/5/2012, đã được xóa án tích.
- Tại Bản án số 20/2013/HSST ngày 24/7/2013, bị TAND thị xã Sầm Sơn (nay là thành phố S), tỉnh Thanh Hóa xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ngày 08/02/2019, đã xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/9/2024 đến ngày 02/10/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Hiện có mặt tại phiên tòa.
4. Họ tên Nguyễn Thị L; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 08/4/1997; Nơi thường trú: Số B L, phường Đ, thành phố T, Thanh Hóa; Nơi ở hiện tại: Số A T, P. L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; CCCD số: [...]; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Trọng D1 bà Phạm Thị N; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Chồng là Nguyễn Thế M, sinh năm 1989; Bị cáo có 04 người con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2023.
Tiền án: Tại Bản án số 86/2023/HS-ST ngày 08/02/2023, Nguyễn Thi L1 bị TAND thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được hoãn chấp hành án do nuôi con dưới 36 tháng tuổi, chưa được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/9/2024 đến ngày 02/10/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Hiện có mặt tại phiên tòa.
5. Họ tên Vũ Trọng H3; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 10/9/1993; Nơi thường trú: Thôn T, xã T, huyện T, Thanh Hóa; CCCD số: [...]; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Vũ Trọng T3 (đã chết) và bà Vũ Thị L2; Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất.
Tiền án: Tại Bản án số 08/2018/HSST ngày 06/02/2018, Vũ Trọng H3 bị TAND huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong ngày 06/02/2020, chưa được xóa án tích.
Tiền sự: Không
Nhân thân:
- Tại Bản án số 19/2013/HSST ngày 26/4/2013 bị TAND huyện Triệu Sơn, tinh T xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong ngày 05/3/2014, đã được xóa án tích.
- Tại Bản án số 10/2021/HSST ngày 24/3/2021 TAND huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong ngày 03/09/2021, đã được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/9/2024 đến ngày 01/10/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Hiện có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quỳnh T: Luật sư Hoàng Thị N1; Công tác tại: Công ty L3 thuộc Đoàn luật sư tỉnh T (có mặt).
Người làm chứng: Nguyễn Anh T4 sinh năm 1997. Trú tại: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ 00 phút ngày 23/09/2024 tại khu vực thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, tổ công tác Công an huyện T phát hiện Vũ Trọng H3 có nhiều biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra phát hiện trong túi áo chống nắng của H3 đang mặc có 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ màu đen bên trong đựng chất màu trắng, H3 khai nhận đây là ma túy Heroine do H3 mua của Nguyễn Thị L mục đích để vừa sử dụng và bán. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ tang vật theo quy định.
Cơ quan điều tra đã khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thị L tại số nhà B, đường L, phường Đ, TP. (nhà bố mẹ đẻ của L) thu giữ gồm: 02 túi nilon màu đen bên trong đều chứa gói giấy có nhiều màu sắc, trong mỗi gói giấy đều đựng chất màu trắng. L khai nhận đây là số ma túy L mua của Bùi Nhật H2 ngày 23/9/2024, sau đó L chia làm 03 gói, bán cho H3 một gói, còn lại L cất giấu để bán.
Ngày 24/9/2024, Bùi Nhật H2 đã đến Cơ quan điều tra xin đầu thú về hành vi mua bán trái phép ma tuý loại Heroine với Nguyễn Thị L nêu trên. Ngoài ra ngày 23/9/2024, H2 còn mua 01 túi ma túy loại hồng phiến của Dương Xuân K mục đích để sử dụng và bán, số ma túy còn lại H2 cất giấu trong ô tô BKS 36K1-10107 mà H2 sử dụng. Cơ quan điều tra tiến hành khám xét thu giữ trong hộp để đồ của xe ô tô gồm: 01 túi nilon màu trắng có mép dính màu đỏ bên trong có 03 túi nilon màu trắng mép dính màu đỏ bên trong mỗi túi đều đựng chất rắn màu trắng dạng cục vụn; 01 túi nilon màu hồng mặt trước có in chữ "A" bên trong có 01 túi nilon màu trắng có mép dính màu xanh đựng 11 viên nén màu hồng; 01 túi nilon màu xanh có mép dính màu đỏ bên trong là 02 túi nilon màu trắng có mép dính màu xanh trong mỗi túi đựng 11 viên nén màu hồng; 01 túi nilon màu trắng có mép dính màu đỏ bên trong là 01 túi nilon màu trắng có mép dính màu đỏ được quấn dây chun màu xanh dựng 01 viên nén màu xám và các viên nén màu hồng. Hồi 07 giờ ngày 24/9/2024, Dương Xuân K đã đến Cơ quan điều tra xin đầu thú.
Về nguồn gốc số ma túy này là do K mua của Nguyễn Quỳnh T vào chiều ngày 21/09/2024 với giá 20.000.000 đồng. K đã bán cho Bùi Nhật H2 01 túi hồng phiến thu được số tiền 7.000.000 đồng, số ma túy còn lại K cất giấu trong xe ô tô BKS 29C-31804. Cơ quan điều tra đã thu giữ gồm: 01 túi ni lông màu hồng có mép dính bên trong chứa nhiều viên nén màu hồng thu tại hộc chứa đồ dưới tay phanh của xe ô tô. Hồi 18 giờ ngày 24/9/2024, Nguyễn Quỳnh T đã đến Cơ quan điều tra xin đầu thú về hành vi bán trái phép 03 túi ma túy hồng phiền cho Dương Xuân K. Nguồn gốc ma túy, T khai mua của người phụ nữ giới thiệu tên là T5 (T quen tại một quán cà phê và không biết cụ thể tên gì, nhà ở đâu). Khám xét nơi ở của T tại P T, phường N, quận B, Hà Nội, Cơ quan điều tra đã thu giữ gồm: 02 túi nilon màu hồng có mép dính, mặt trước có in hình chữ "A" bên trong có chứa các viên nén màu hồng và xanh; 08 túi nilon màu xanh, có mép dính bên trong mỗi túi đều đựng các viên nén màu hồng và xanh.
Tại bản Kết luận giám định số 3617/KL-KTHS ngày 01/10/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận:
- Đối với số ma túy thu giữ của Vũ Trọng H3: Chất rắn màu trắng của phong bì niêm phong ký hiệu A4 gửi giám định là ma túy có tổng khối lượng 0,097 gam loại Heroine;
- Đối với số ma túy thu giữ của Nguyễn Thị L: Chất rắn màu trắng dạng cục vụn của phong bì niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy có tổng khối lượng 0,443 gam loại Heroine;
- Đối với số ma túy thu giữ của Bùi Nhật H2: Chất rắn màu trắng dạng cục vụn của phong bì niêm phong ký hiệu H1 gửi giám định là ma túy có tổng khối lượng 4,639 gam loại Heroine; 11 viên nén màu hồng của phong bì niêm phong Ký hiệu H2 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 1,056 gam loại: Methamphetamine; 22 viên nén màu hồng của phong bì niêm phong ký hiệu h3 gửi giám định là ma túy có tổng khối lượng 2,136 gam loại Methamphetamine; 01 viên nén màu xanh của phong bì niêm phong ký hiệu H4 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,102 gam loại: Methamphetamine; Các viên nén màu hồng của phong bì niêm phong ký hiệu H4 gửi giám định là ma túy có tổng khối lượng 5,305 gam loại Methamphetamine;
- Đối với số ma túy thu giữ của Dương Xuân K: Các viên nén màu hồng của phong bì niêm phong ký hiệu K1 gửi giám định là ma túy có tổng khối lượng 4,931 gam loại Methamphetamine; Các viên nén màu hồng của phong bì niêm phong ký hiệu K2 gửi giám định là ma túy có tổng khối lượng 6,518 gam loại Methamphetamine;
- Đối với số ma túy thu giữ của Nguyễn Quỳnh T: Các viên nén màu hồng của phong bì niêm phong ký hiệu T1 gửi giám định là ma túy có tổng khối lượng 183,424 gam loại Methamphetamine; Các viên nén màu xanh của phong bì niêm phong ký hiệu T1 gửi giám định là ma túy có tổng khối lượng 1,914 gam loại Methamphetamine.
Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của các bị cáo cụ thể như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 23/9/2024, Vũ Trọng H3 đi xe máy BKS 84K7-9889 đến Công ty may xã Đ, huyện T rủ Nguyễn Anh T4 góp tiền mỗi người 500.000 đồng để mua ma túy. Sau khi T4 thống nhất và đưa cho H3 500.000 đồng, H3 đã sử dụng số điện thoại 0857.140.xxx gọi đến số điện thoại 0941.997.xxx của Nguyễn Thị L (là bạn bè quen biết từ trước) hỏi mua 1.000.000₫ ma túy loại Heroine. L đồng ý và gửi số tài khoản 088808041997 của L mở tại Ngân hàng Q yêu cầu H3 chuyển trước số tiền 1.000.000 đồng. Sau đó, H3 và T4 đã đến cửa hàng tạp hóa của chị Lê Thị T6, H3 nhờ chị T6 chuyển số tiền 1.000.000 đồng đến tài khoản trên cho L (chị T6 không biết mục đích chuyển tiền của H3). Sau đó, H3 đi xe máy chở T4 đến khu vực công viên gần khách sạn M1 ở thành phố T để lấy ma túy. Khi gần đến điểm hẹn, H3 bảo T4 xuống xe đợi. H3 đến gặp L, nhận gói ma túy thì L nói với H3 gói ma túy có giá 1.300.000 đồng. Do không có tiền nên H3 xin nợ lại 300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy trên, H3 đi đón T4 chở về đến đám đất trống gần Công ty M, H3 nói cho T4 biết gói ma túy vừa mua với giá 1.300.000 đồng nên T4 bảo với H3 lấy lượng ma túy nhiều hơn của T4, tương đương với số tiền 800.000 đồng mà H3 đã bỏ ra. Sau đó T4 cầm ma túy vừa mua được trên đi về gần công ty may một mình sử dụng hết, còn H3 đi về đến cánh đồng gần nhà, lấy ra một phần ma túy sử dụng một mình hết, phần còn lại cất giấu trong người mục đích để sử dụng và bán, tuy nhiên khi H3 về đến cổng nhà thì bị lực lượng Công an kiểm tra thu giữ.
Nguồn gốc số ma túy trên là do Nguyễn Thị L mua của Bùi Nhật H2 vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 23/9/2024. L sử dụng số điện thoại 0941.997.xxx gọi đến số điện thoại 0259.857.xxx của H2 để hỏi mua 05 phân ma túy loại Heroine. H2 đồng ý bán cho L với giá 2.000.000 đồng và hẹn đến công viên B để giao dịch mua bán. Lý một mình đi xe máy BKS 36B1-4293 ra điểm hẹn gặp H2 đi xe taxi đến, L đã đưa tiền mặt cho H2 số tiền là 2.000.000 đồng và nhận 01 gói ma túy mang về nhà để tại số nhà B, đường L, phường Đ, TP., một mình L đã chia số ma túy vừa mua được thành 03 phần, gói vào giấy và bọc bên ngoài bằng túi nilon màu đen, trong đó 01 gói L cầm ra phía sau khách sạn M1 bán cho H3, còn 02 gói ma tuý có tổng khối lượng là 0,443 gam loại Heroine, L cất giấu sau đồng hồ treo tường ở phòng khách, mục đích để bán.
Về số ma túy Bùi Nhật H2 bán cho Nguyễn Thị L và 4,639 gam Heroine mà cơ quan điều tra đã thu giữ, theo H2 khai vào ngày 17/9/2024, H2 một mình đi xe khách ra khu vực bến xe G, Hà Nội mua 4.000.000 đồng của một người đàn ông tên là T4 (không rõ nơi ở, địa chỉ cụ thể). Ngoài số ma túy trên, tối ngày 21/9/2024, Bùi Nhật H2 và Dương Xuân K đã sử dụng sim rác để liên lạc, trao đổi mua bán ma túy (sau đó H2 và K đã ném những chiếc sim rác trên cùng với điện thoại đi, nhưng không nhớ ném ở vị trí nào). Sau đó K đã bán cho H2 01 túi ma túy hồng phiến với giá 7.000.000 đồng, địa điểm giao ma túy là cây xăng Q1 gần khu vực ngã tư giao nhau giữa đại lộ V và đường tránh thành phố T. Khi H2 đến điểm hẹn thì gặp K đi ô tô đến, H2 đưa tiền mặt cho K và nhận 01 túi ma túy hồng phiến. Sau đó, H2 đã sử dụng một phần, còn lại với tổng khối lượng 8,599 gam Methamphetamine, H2 đã chia nhỏ vào 04 túi cất giấu cùng với số 4,639 gam ma túy loại Heroine, mục đích để bán.
Số ma túy hồng phiến Dương Xuân K bán cho Bùi Nhật H2 là do K mua của Nguyễn Quỳnh T, việc mua bán cụ thể như sau: Vào chiều ngày 21/9/2024, K đã sử dụng số điện thoại 0981.669.xxx gọi đến số điện thoại 0965.193.xxx của T hỏi mua 03 túi ma túy loại hồng phiến, T đồng ý bán với giá 20.000.000 đồng và hẹn giao ma túy ở gần trường Đại học N4, đường P. Khi đến nơi, K nhận ma túy và đưa tiền mặt cho T. Sau đó, K đã bán cho H2 01 túi, còn lại 02 túi ma túy có tổng khối lượng là 11,449 gam loại Methamphetamine Kiều cất giấu tại ô tô nhãn hiệu Ford Ranger BKS 29C-31804, để sử dụng và bán kiếm lời nhưng chưa bán cho ai thì bị cơ quan điều tra phát hiện, thu giữ.
Nguồn gốc số ma túy trên, theo T khai mua của người phụ nữ tên là T5 vào ngày 21/9/2024 với giá 19.000.000 đồng, (T và T5 quen biết trong một lần đi uống cà phê, sau đó T5 đã nói cho T biết T5 bán ma túy). Ngoài lần mua bán trên, ngày 24/9/2024, T tiếp tục mua của T5 10 túi hồng phiến (08 túi màu xanh, 02 túi màu hồng) có tổng khối lượng là 185,338 gam Methamphetamine, mục đích sử dụng và bán, tuy nhiên chưa kịp bán thì bị Cơ quan điều tra khám xét, thu giữ.
Về vật chứng vụ án:
Thu giữ, tạm giữ của Vũ Trọng H3, gồm : 01 điện thoại di động OPPO A7, màu xanh, gắn sim số 0857140222, máy cũ đã qua sử dụng, quá trình điều tra xác định H3 đã dùng chiếc điện thoại này để liên hệ với Nguyễn Thị L thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy.
Đối với xe máy 01 xe máy gắn BKS 84K7-9889 nhãn hiệu NOVO màu đỏ đen. H3 khai chiếc xe này là H3 mua lại của người đàn ông (không nhớ tên, tuổi, địa chỉ) nhưng chưa sang tên. H3 đã dùng trên làm công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội. Tra cứu chiếc xe trên không có trong danh sách, dữ liệu quản lý xe vật chứng của các vụ án, vụ việc đang điều tra.
Thu giữ, tạm giữ của Nguyễn Thị L, gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu trắng, gắn sim số 0941997189, L đã dùng làm công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội.
01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu vàng gold, gắn sim số 0858872219, quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại này là của anh Nguyễn Thế M (chồng L) không liên quan đến hành vi phạm tội.
01 xe máy gắn BKS 36B1-42936, nhãn hiệu HONDA màu trắng đen, Lý mượn của chị Nguyễn Thị N2 (mẹ đẻ). Tra cứu chiếc xe máy trên đăng ký tên Trần Linh C1, trú tại số nhà E H, phường Đ, TP., tỉnh Thanh Hóa, không nằm trong danh sách xe vật chứng. Cuối tháng 6 âm lịch năm 2024, chị N2 có mua chiếc xe trên của Trần Linh C1 với giá 6.000.000 đồng, chị N2 không biết việc L sử dụng xe để phạm tội, Cơ quan điều tra đã ra quyết định trả lại chiếc xe trên cho chị Nguyễn Thị N3.
Số tiền 500.000đ, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của L, không liên quan đến hành vi phạm tội.
Thu giữ, tạm giữ của Bùi Nhật H2, gồm: 01 điện thoại di động Iphone 14 màu trắng, gắn sim số 0941481987 đã qua sử dụng, quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại này không liên quan đến hành vị phạm tội của H2.
01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu xám gắn sim số 0392562363 và 0358578007, quá trình điều tra xác định H2 đã dùng chiếc điện thoại này để thực hiện hành vi phạm tội. 01 xe ô tô gắn BKS 36K-10107, nhãn hiệu HONDA CIVIC màu trắng, tra cứu chủ xe là chị Lê Thị Kim D, trú tại: D, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa (vợ Bùi Nhật H2) và không nằm trong danh sách xe vật chứng. Chị D không biết H2 sử dụng xe để thực hiện hành vi phạm tội, Cơ quan điều tra đã ra quyết định trả lại chiếc xe trên cho chị Lê Thị Kim D;
Thu giữ, tạm giữ của Dương Xuân K, gồm: 01 điện thoại di động Iphone 15 Pro, màu xanh đen máy cũ đã qua sử dụng;
01 (một) điện thoại Iphone 7 Plus màu hồng máy cũ đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Goly màu xanh, máy cũ đã qua sử dụng, quá trình điều tra xác định 03 (ba) điện thoại di động có đặc điểm như trên không liên quan đến hành vi phạm tội của Dương Xuân K.
01 xe ô tô gắn BKS 29C- 31804, nhãn hiệu FORD RANGER màu sơn ghi vàng của Dương Xuân K mượn của anh Hồ Xuân X, sinh năm 1987 trú tại thôn V, xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Ngày 11/9/2024 anh X đã mua của người tên Phi Hoàng Đ2 ở quận Đ, TP. làm phương tiện đi lại (chiếc xe này, Đ2 mua lại, không nhớ tên chủ xe). Tra cứu chủ xe là Nguyễn Tiến D2 địa chỉ P508 B, tập thể K, phường K, quận Đ, TP .. Anh X không biết K sử dụng xe để thực hiện hành vi phạm tội. Cơ quan điều tra đã ra quyết định trả lại chiếc xe trên cho anh Hồ Xuân X.
Thu giữ, tạm giữ của Nguyễn Quỳnh T, gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, màu xanh cũ đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định T đã dùng chiếc điện thoại này để thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy.
Toàn bộ số ma túy thu giữ còn lại sau giám định và các tài sản, đồ vật còn lại trên chuyển đến Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa để quản lý, chờ xử lý theo quy định của pháp luật.
Cáo trạng số: 24/CT-VKS-P1 ngày 05/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã truy tố các bị cáo Nguyễn Quỳnh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự;
Bị cáo Dương Xuân K về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i, điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự;
Bị cáo Bùi Nhật H2 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự;
Các bị cáo Vũ Trọng H3, Nguyễn Thị L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với các bị cáo vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
- Đề nghị HĐXX, tuyên các bị cáo Nguyễn Quỳnh T, Dương Xuân K, Bùi Nhật H2, Nguyễn Thị L, Vũ Trọng H3 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Hình phạt chính:
- Áp dụng điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 BLHS, xử phạt Nguyễn Quỳnh T hình phạt 20 năm tù.
- Áp dụng điểm i, q khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS xử phạt Dương Xuân K hình phạt 9 năm 6 tháng đến 10 năm tù.
- Áp dụng điểm p khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 (trường hợp tái phạm); Điều 38 BLHS, xử phạt Bùi Nhật H2 hình phạt từ 8 năm đến 8 năm 6 tháng tù.
- Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52 (trường hợp tái phạm); Điều 38; Điều 55; Điều 56 BLHS xử phạt Nguyễn Thị L hình phạt từ 39 tháng đến 42 tháng tù, tổng hợp hình phạt 8 năm từ của Bản án số 86/2023/HS-ST ngày 08/02/2023 (trừ thời hạn đã tạm giữ, tạm giam), buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù từ 11 năm 3 tháng đến 11 năm 6 tháng tù.
- Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 (trường hợp tái phạm); Điều 38 BLHS xử phạt Vũ Trọng H3 hình phạt từ 30 tháng đến 36 tháng tù.
- Hình phạt bổ sung:
- Phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Quỳnh T từ 10 triệu đồng đến 15 triệu đồng.
- Phạt tiền đối với các bị cáo Dương Xuân K, Bùi Nhật H2, Nguyễn Thị L từ 05 triệu đồng đến 10 triệu đồng.
- Đề nghị xử lý vật chứng, tiền truy thu và án phí theo quy định của pháp luật.
Quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quỳnh T: Thống nhất như tội danh Viện kiểm sát đã truy tố. Đề nghị HĐXX xem xét trình độ học vấn, hoàn cảnh gia đình của bị cáo để giảm nhẹ hình phạt tù và miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Lời nói sau cùng, các bị cáo nhận tội, không tranh luận, xin được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật, cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về đoàn tụ với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên. VKSND tỉnh Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại Cơ quan Điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, các biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; Các kết luận giám định, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 13h 30 phút ngày 23/9/2024, Vũ Trọng H3 và Nguyễn Anh T4 sinh ngày 09/06/1997 nơi thường trú tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, mỗi người góp 500.000 đồng, rồi đến quán tạp hóa của chị Lê Thị Thủy S năm 1985 trú tại thôn T, xã Đ, huyện T, nhờ chị T6 chuyển khoản đến tài khoản 088808041997 của L mở tại Ngân hàng Q số tiền 1.000.000 đồng. Sau đó, H3 đi xe máy nhãn hiệu NOVO, BKS 84K7-9889 màu đỏ đen chở T4 đến khu vực sau khách sạn M1, thành phố T đợi H3 đi đến gặp L để nhận ma túy. Số ma túy này, H3 đã chia cho T4 một phần, để T4 tự sử dụng hết, còn lại H3 lấy một phần sử dụng cho bản thân và giữ lại 0,097 gam ma túy loại Heroine cất giấu trong người để bán thì bị bắt quả tang tại khu vực trước cổng nhà của H3 ở thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Số ma túy bán cho Vũ Trọng H3 là Nguyễn Thị L mua của Bùi Nhật H2 vào khoảng 13h30 phút ngày 23/9/2024, tại khu vực công viên B, phường Đ, thành phố T với giá 2.000.000 đồng. Sau khi L bán cho H3 một phần, còn lại 0,443 gam loại Heroine Lý cất giấu tại số nhà B đường L, phường Đ, TP. (nhà của bố mẹ đẻ L) mục đích để bán. Do đó L phải chịu trách nhiệm về hành vi mua bán trái phép chất ma túy đối với số ma túy của L và 0,097 gam ma túy loại Heroine thu giữ của H3, tổng khối lượng là 0,54 gam loại ma túy Heroine.
Ngoài hành vi mua bán trái phép chất ma túy loại Heroine với Nguyễn Thị L trên, trước đó vào tối ngày 21/9/2024, Bùi Nhật H2 còn mua 01 túi ma túy hồng phiến có tổng khối lượng là 8,599 gam Methamphetamine của Dương Xuân K với giá 7.000.000 đồng tại khu vực cây xăng Q1 gần ngã tư giao nhau giữa đại lộ V và đường tránh thành phố T. Số ma túy này H2 mang về cất giấu cùng với 4,639 gam ma túy loại Heroine trong xe ô tô nhãn hiệu HONDA CIVIC màu trắng, BKS 36K-10107 mục đích để bán. Vì vậy H2 phải chịu trách nhiệm về hành vi mua bán trái phép chất ma túy đối với số ma túy thu giữ của H2 và 0,54 gam loại ma túy Heroine thu giữ của L, tổng khối lượng là 13,778 gam ma túy loại Methamphetamine và H4.
Nguồn gốc ma túy Dương Xuân K bán cho Bùi Nhật H2 là do K mua của Nguyễn Quỳnh T vào chiều ngày 21/9/2024 tại khu vực gần trường Đại học N4, đường P với số tiền 20.000.000 đồng. Sau khi bán cho H2, còn lại là 11,449 gam ma túy loại Methamphetamine, K cất giấu trong xe ô tô nhãn hiệu FORD RANGER màu sơn ghi vàng, BKS 29C- 31804 mục đích để bán. Vì vậy, K phải chịu trách nhiệm về hành vi mua bán trái phép chất ma túy đối với toàn bộ số ma túy thu giữ của K và 8,599 gam Methamphetamine thu giữ của H2, tổng cộng khối lượng là 20,048 gam ma túy loại Methamphetamine.
Ngoài số ma túy Nguyễn Quỳnh T bán cho Dương Xuân K nêu trên, T còn tàng trữ tồng 185,338 gam ma túy Methamphetamine tại Phòng P T, phường N, quận B, Thành phố Hà Nội mục đích để bán. Do đó T phải chịu trách nhiệm về hành vi mua bán trái phép chất ma túy đối với toàn bộ số ma túy thu giữ của T và 20,048 gam ma túy loại Methamphetamine đã thu giữ của K, tổng cộng là 205,386 gam ma túy Methamphetamine.
Như vậy Hội đồng xét xử nhận thấy đã có đủ cơ sở kết luận: Hành vi phạm tội trên đây của Nguyễn Quỳnh T phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 BLHS. Hành vi phạm tội của Bùi Nhật H2 đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 BLHS. Hành vi của Dương Xuân Kiều P vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i, q khoản 2 Điều 251 BLHS. Hành vi của Vũ Trọng H3 và Nguyễn Thị L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS.
[3]. Về tính chất vụ án: Hành vi phạm tội trên đây của bị cáo Nguyễn Quỳnh T là đặc biệt nghiêm trọng, của các bị cáo Dương Xuân K và Bùi Nhật H2 là rất nghiêm trọng, của các bị cáo Nguyễn Thị L và Vũ Trọng H3 là nghiêm trọng, đã gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước nên cần phải được xử lý nghiêm trước pháp luật.
Các bị cáo là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, là người có đủ năng lực chịu TNHS về hành vi phạm tội; Các bị cáo nhận thức đầy đủ về tính chất nguy hiểm cũng như hậu quả của hành vi do mình thực hiện, các bị cáo đều biết việc mua bán trái phép chất ma túy là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm nếu bị phát hiện thì sẽ bị xử lý nghiêm khắc nhưng vì hám lời, muốn kiếm tiền một cách nhanh nhất, bất chấp đến hậu quả do hành vi của mình gây ra nên vẫn cố ý thực hiện hành vi nên các bị cáo phạm tội do lỗi cố ý trực tiếp. Do vậy, cần phải xét xử nghiêm khắc trước pháp luật mới có tác dụng trừng trị, răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội, nhất là đối với các loại tội phạm về ma túy đang gây bức xúc trong giai đoạn hiện nay.
[4]. Về động cơ, mục đích, nguyên nhân và điều kiện phạm tội của các bị cáo: Bản thân các bị cáo mua ma túy mục đích sử dụng và bán để kiểm lời.
[5]. Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
* Nhân thân của các bị cáo trong vụ án
Các bị cáo đều có nhân thân xấu, nhiều tiền án, nhiều lần bị xét xử về tội phạm liên quan đến ma túy.
Đối với bị cáo Nguyễn Quỳnh T từ năm 1999 đến năm 2016 có 03 lần bị kết án về về các tội: Tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy và tội: Trộm cắp tài sản đã được xóa án tích.
Đối với bị cáo Dương Xuân K có 03 bị kết án về tội: Tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy chưa được xóa án tích; Do ngày 22/11/2019 K bị TAND thành phố Thanh Hóa xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời điểm bị bắt ngày 24/9/2024 K có ba lần phạm tội chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội mới nên lần phạm tội này K còn phải chịu thêm tình tiết định khung “tái phạm nguy hiểm".
Đối với bị cáo Bùi Nhật H2 từ năm 2004 đến 2023 có 05 lần bị kết án, về các tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Trộm cắp tài sản; Tàng trữ trái phép chất ma túy; Mua bán trái phép chất ma túy; Năm 2023, bị kết án về tội "Hủy hoại tài sản" chưa được xóa án tích;
Đối với bị cáo Nguyễn Thị L đang được hoãn chấp hành hình phạt tù của bản án khác nên buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án mới, tổng hợp hình phạt 08 năm theo bản án HSST số 86/2023/HSST ngày 08/02/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa theo quy định tại khoản 2 Điều Bộ luật Hình sự.
Đối với bị cáo Vũ Trọng H3 03 lần bị kết án về tội: Trộm cắp tài sản. Bản án số 08/2018/HSST ngày 06/02/2018 của Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh thanh Hóa bị cáo chưa chấp hành xong phần truy thu và bồi thường nên chưa được xóa án tích;
* Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo Bùi Nhật H2, Nguyễn Thị L, Vũ Trọng H3 phải chịu tình tiết tăng nặng là “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
* Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo “thành khẩn khai báo” nên được hưởng chung tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Các bị cáo Nguyễn Quỳnh T, Dương Xuân K, Nguyễn Thị L và Bùi Nhật H2 “đầu thú”; Bị cáo K có bố đẻ được tặng Huân chương chiến sỹ Giải phóng hạng ba, Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng nhì và mẹ đẻ được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất; Bị cáo H2 có bố đẻ là Bùi Huy Đ1 được tặng thưởng Huy chương Kháng chiến hạng nhất; Bị cáo L đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi và có bác (anh trai mẹ tên Nguyễn Quốc T7) là liệt sỹ, bà ngoại tên là Nguyễn Thị T8 là Mẹ Việt Nam Anh hùng, do đó các bị cáo đều được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
Ngoài ra, bị cáo Dương Xuân K và Bùi Nhật H2 “tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong quá trình giải quyết vụ án” nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 BLHS
[6]. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân, Hội đồng xét xử thấy rằng cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo, mới đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời răn đe, giáo dục phòng ngừa chung. Xét thấy, mức hình phạt mà Đại diện viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7]. Căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội từng bị cáo nên có sự phân hóa vai trò khác nhau để xem xét hình phạt cho từng bị cáo cũng có khác nhau. Trong vụ án này các bị cáo đã độc lập thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, trong đó: Bị cáo Nguyễn Quỳnh T phải chịu trách nhiệm và bị xử lý với tổng khối lượng ma túy là 205,386 gam loại Methamphetamine nên xếp vị trí đứng đầu. Bị cáo Dương Xuân K phải chịu trách nhiệm và bị xử lý với tổng khối lượng ma túy là 20,048 gam loại Methamphetamine + Heroin nên xếp vị trí thứ hai. Bị cáo Bùi Nhật H2 phải chịu trách nhiệm và bị xử lý với tổng khối lượng ma túy là 13.778 gam loại Methamphetamine, Heroine nên xếp vị trí thứ ba. Bị cáo Nguyễn Thị L phải chịu trách nhiệm và bị xử lý đối với tổng khối lượng ma túy là 0,54 gam loại Heroine nên xếp thứ tư. Bị cáo Vũ Trọng H3 phải chịu trách nhiệm và bị xử lý với tổng khối lượng ma túy là 0,097 gam loại Heroine nên xếp vị trí thứ năm.
[7]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo Nguyễn Quỳnh T, Dương Xuân K, Bùi Nhật H2, Nguyễn Thị L, Vũ Trọng H3 phạm tội nhằm mục đích thu lợi bất chính nên cần phạt bổ sung một khoản tiền nhất định sung vào ngân sách Nhà nước. Đề nghị của Viện kiểm sát áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là có căn cứ theo quy định tại khoản 5 Điều 251 BLHS nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Tịch thu tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm của Nguyễn Quỳnh T số tiền 20.000.000 đồng là tiền do bán ma túy ngày 21/9/2024 cho Dương Xuân K. Tịch thu của Dương Xuân K số tiền 7.000.000₫ là tiền do bán ma túy ngày 23/9/2024 cho cho Bùi Nhật H2. Tịch thu của Bùi Nhật H2 số tiền 2.000.000₫ là tiền do bán ma túy ngày 23/9/2024 cho Nguyễn Thị L. Tịch thu của Nguyễn Thị L số tiền 1.000.000₫ là tiền thu lời bất chính do bán ma túy ngày 23/9/2024 cho Vũ Trọng H3 mà có theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.
[8]. Việc xử lý đối tượng liên quan đến vụ án:
Về nguồn gốc ma túy loại hồng phiến: Nguyễn Quỳnh T khai mua của người phụ nữ tên là T5. Tuy nhiên T không biết họ tên đầy đủ và nơi ở của T5. Do đó Cơ quan điều tra không có đủ căn cứ để điều tra xác minh làm rõ và xử lý trong vụ án này.
Về nguồn gốc ma túy loại Heroine: Bùi Nhật H2 khai mua của một người đàn ông tên T4 nhưng không biết họ tên đầy đủ và nơi ở của T4, do đó, Cơ quan điều tra không có đủ căn cứ để điều tra, xác minh làm rõ và xử lý trong vụ án này.
Đối với Nguyễn Anh T4. Ngày 23/9/2024, T4 đã góp 500.000 đồng đưa cho H3 mua ma túy của Nguyễn Thị L, mục đích để sử dụng. Sau khi mua được ma túy, T4 đã một mình sử dụng hết và không biết H3 mua ma túy để bán. Do đó, Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự đối với T4.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Quỳnh T: Tại phiếu kết quả xét nghiệm nước tiểu xác định: T (Dương tính) Methamphetamine; Amphetamine, C. Việc T sử dụng ma túy Hồng phiến ngày 24/9/2024 tại nhà không có ai biết và không có ai tham gia cùng. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Quỳnh T về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
[9]. Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ:
- Đối với các chất ma túy và các bao bì thu giữ còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động OPPOA7 màu xanh gắn sim số 0857140222 và 01 xe mô tô BKS 84K7-9889 nhẫn hiệu NOVO màu đỏ đen của Vũ Trọng H3; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S plus màu trắng gắn sim số 0941997189 của Nguyễn Thị L; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 105 màu xám gắn sim số 0392562363 và sim số 0358578007 của Bùi Nhật H2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu xanh của Nguyễn Quỳnh T là công cụ phạm tội các bị cáo dùng để thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy nên cần tịch thu sung công quỹ.
- Đối với vật, tiền không liên quan đến tội phạm: Trả lại cho Dương Xuân K gồm: 01 điện thoại di động Iphone 15 Pro màu xanh đen máy cũ đã qua sử dụng; 01 điện thoại Iphone 7 Plus màu hồng máy cũ đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Goly màu xanh.
Trả lại cho Bùi Nhật H2 01 điện thoại di động Iphone 14 màu trắng, gắn sim số 0941481987.
Trả lại cho anh Nguyễn Thế M (chồng của Nguyễn Thị L) 01 điện thoại dị động nhãn hiệu Iphone 6 màu vàng gold, gắn sim số 0858872219.
Trả lại cho Nguyễn Thị L số tiền 500.000₫ do quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng tiếp tục quy trữ để đảm bảo cho việc thi hành án.
Toàn bộ số vật chứng hiện được thu giữ và quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng số: 84/2025/TV-CTHADS ngày 07 tháng 3 năm 2025 hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.
[10]. Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật;
[11]. Các bị cáo được quyền kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân được quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Điểm b khoản 4 Điều 251 (đối với Nguyễn Quỳnh T); Điểm i, điểm q khoản 2 Điều 251 (đối với Dương Xuân K); Điểm p khoản 2 Điều 251 (đối với Bùi Nhật H2); Điểm t Điều 51 (đối với Dương Xuân K và Bùi Nhật H2); Điểm h khoản 1 Điều 52 (đối với Bùi Nhật H2, Nguyễn Thị L và Vũ Trọng H3); Khoản 1 Điều 251 ( đối với Nguyễn Thị L và Vũ Trọng H3); Điểm s khoản 1, khoản 2 (đối với Nguyễn Quỳnh T, Dương Xuân K, Bùi Nhật H2, Nguyễn Thị L) Điều 51; Khoản 5 Điều 251; Khoản 2 Điều 56 (đối với Nguyễn Thị L); Các Điều 17, 58; 38 BLHS; Điểm a khoản 1 Điều 46; Điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự (đối với Nguyễn Quỳnh T, Dương Xuân K, Bùi Nhật H2, Nguyễn Thị L); Điểm a, b khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136; Các Điều 331; 333; 336; 337 BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTV- QH14 ngày 30/12/2016.
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Quỳnh T, Dương Xuân K, Bùi Nhật H2, Nguyễn Thị L, Vũ Trọng H3 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
Về hình phạt:
a, Hình phạt chính :
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Quỳnh T 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày 24/9/2024.
- Xử phạt bị cáo Dương Xuân K 09 (chín) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày Thời hạn tù tính từ ngày 24/9/2024.
- Xử phạt bị cáo Bùi Nhật H2 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày 24/9/2024.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt chung 08 (tám) năm tù tại bản án số 86/2023/HSST ngày 08/02/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 11 (mười một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/9/2024.
- Xử phạt bị cáo Vũ Trọng H3 33 (ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày 23/9/2024.
b) Hình phạt bổ sung:
- Phạt tiền đối với các bị cáo Nguyễn Quỳnh T, Dương Xuân K, Bùi Nhật H2, Nguyễn Thị L, Vũ Trọng H3 mỗi bị cáo là 5.000.000₫ (năm triệu đồng).
- Tịch thu của Nguyễn Quỳnh T số tiền 20.000.000₫ (hai mươi triệu đồng). Tịch thu của Dương Xuân K số tiền 7.000.000đ (bảy triệu đồng). Tịch thu của Bùi Nhật H2 số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng). Tịch thu của Nguyễn Thị L số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng).
c) Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ:
- Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ số ma túy và các bao bì thu giữ còn lại sau giám định.
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động OPPOA7 màu xanh gắn sim số 0857140222 và 01 xe mô tô BKS 84K7-9889 nhẫn hiệu NOVO màu đỏ đen của Vũ Trọng H3; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S plus màu trắng gắn sim số 0941997189 của Nguyễn Thị L; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 105 màu xám gắn sim số 0392562363 và sim số 0358578007 của Bùi Nhật H2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu xanh của Nguyễn Quỳnh T.
- Trả lại cho Dương Xuân K gồm: 01 điện thoại di động Iphone 15 Pro màu xanh đen máy cũ đã qua sử dụng; 01 điện thoại Iphone 7 Plus màu hồng máy cũ đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Goly màu xanh. Trả lại cho Bùi Nhật H2 01 điện thoại di động Iphone 14 màu trắng, gắn sim số 0941481987. Trả lại cho anh Nguyễn Thế M (chồng của Nguyễn Thị L) 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu vàng gold, gắn sim số 0858872219.
- Tiếp tục quy trữ số tiền 500.000₫ của Nguyễn Thị L. để đảm bảo cho việc thi hành án.
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng số: 84/2025/TV-CTHADS ngày 07 tháng 3 năm 2025 hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa).
Về án phí sơ thẩm:
Buộc các bị cáo Nguyễn Quỳnh T, Dương Xuân K, Bùi Nhật H2, Nguyễn Thị L, Vũ Trọng H3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo:
Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Lê Thị Tố Như |
Bản án số 77/2025/HS-ST ngày 15/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 77/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
