Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH SƠN

TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2025/HS –ST

Ngày: 12-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Thanh Vũ.
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Quang Ấn và ông Trần Quang.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Thịnh – Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 98/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2025/QĐXXST – HS ngày 07 tháng 5 năm 2025, đối với bị cáo:

Bùi Duy P, sinh ngày 02/02/1985; Nơi thường trú: Thôn A, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 3/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông Bùi Duy Đ, sinh năm 1959 (chết) và bà Phùng Thị H, sinh năm 1964; bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án: Ngày 13/7/2007, bị Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép trái phép chất ma túy”.

Tiền sự: Không:

Nhân thân: Ngày 30/7/2004, bị Tòa án nhân dân Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 06/06/2013, bị Tòa án nhân dân Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép trái phép chất ma túy”; Ngày 16/9/2019, bị Công an huyện B xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc. Ngày 01/12/2022, bị Công an huyện B xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2024 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Anh Trịnh T, sinh năm 1989; Nơi cư trú: Thôn P, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.

2

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Phú H1, sinh năm 1988; Nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.

Anh Nguyễn Tăng Đ1, sinh năm 1995; Thôn A, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.

Phạm Ngọc H2, sinh năm 1972; Nơi thường trú: Thôn P, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt.

Phạm H3, sinh năm 1977; Nơi cư trú: thôn A, thị trấn C, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người làm chứng:

Anh Lê Anh T1, sinh năm 2004; Nơi cư trú: Thôn P, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.

Chị Lê Thùy V, sinh năm 1995; Nơi cư trú: Thôn M, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 55 phút, ngày 14/12/2024, Bùi Duy P điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 76Y1-0588 đến tiệm mua bán điện thoại di động “Trường 1989” tại thôn P, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi để tìm anh Trịnh T, sinh năm 1989; trú tại: Thôn P, xã B, huyện B, là chủ tiệm điện thoại để hỏi chuyện. Khi vào tiệm điện thoại, P không thấy anh T, chỉ có chị Lê Thùy V sinh năm 1995; trú tại: Thôn M, xã B, huyện B, là nhân viên đang nằm ngủ trên võng, thấy vậy P nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. P lén lút đi vào bên trong, dùng tay mở cửa tủ trưng bày điện thoại di động lấy 09 (chín) điện thoại di động bỏ vào trong túi áo khoác đang mặc trên người rồi bỏ đi. Sau đó anh Trịnh T phát hiện mất tài sản nên đi trình báo. Công an xã B đã đến hiện trường để điều và trích xuất dữ liệu camera ghi lại diễn biến sự việc tại tiệm điện thoại và nghi vấn người trộm cắp tài sản là Bùi Duy P, nên tiến hành truy tìm đối tượng.

Sau khi Bùi Duy P chiếm đoạt tài sản, P điều khiển xe mô tô đi đến tiệm mua bán điện thoại di động P, tại Tổ dân phố A, thị trấn C, huyện B để tìm Nguyễn Tăng Đ1, sinh năm 1995, trú tại thôn T, xã B, huyện B, là nhân viên của tiệm điện thoại di động P nhưng không gặp được Đ1, mà gặp anh Nguyễn Phú H1, sinh năm 1988, trú tại thôn T, xã B, huyện B, là chủ tiệm điện thoại. Tại đây, P kéo khóa áo khoác của P xuống cho anh H1 xem các điện thoại trong áo và nói với anh H1 “Hàng nè, hàng nè”. P nhờ anh H1 điện thoại cho anh Đ1 để P nói chuyện với anh Đ1. Anh H1 không đồng ý gọi cho Đ1 vì biết mục đích P tìm Đ1 là để bán cho Đ1 các điện thoại P đang mang đến và đồng thời anh H1 nói với P “Nó không mua đâu”. Nhưng do P năn nỉ nên anh H1 điện thoại Z cho anh Đ1 và P có nói cho Đ1 nghe về việc P có 10 (mười) cái điện thoại và muốn chụp hình

3

gửi cho Đ1 xem. Tuy nhiên, do anh Đ1 sợ điện thoại của P là do trộm cắp mà có nên anh Đ1 nói không mua và tắt nguồn. Sau khi anh Đ1 nói không mua điện thoại thì P cầm số điện thoại nói trên rời khỏi tiệm điện thoại di động P.

Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, Bùi Duy P tiếp tục quay lại tiệm điện thoại “P” để tìm Nguyễn Tăng Đ1 nhưng không gặp được Nguyễn Tăng Đ1 nên P mang 09 (chín) điện thoại di động đến tiệm điện thoại “Trường 1989”. Tại đây, P nhờ chị Lê Thùy V gọi điện thoại cho anh Trịnh T về để nói chuyện và trả lại điện thoại cho anh T. Nhận được thông tin về việc P đang có mặt tại tiệm điện thoại “Trường 1989” nên Công an xã B đã đến hiện trường và tạm giữ 09 (chín) điện thoại nói trên từ Bùi Duy P.

Tại Kết luận định giá tài sản số 120/KL-HĐĐGTS ngày 18/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B kết luận 09 (chín) điện thoại di động, tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị 19.300.000 đồng (mười chín triệu ba trăm nghìn đồng).

Tại Kết luận giám định số 1273/KL-KTHS ngày 05/3/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q về giám định dữ liệu điện tử kết luận:

Một thẻ nhớ màu trắng, đen, loại Mocro SD HCI, nhãn hiệu SanDisk Ultra, dung lượng 32GB, xác định:

  • - Có 01 tập tin video có tên “VIDEO_ DOWNLOAD_ 173416126764061267640, dung lượng 1.73MB. Sao chép toàn bộ video sang đĩa DVD.
  • - Trích xuất được 15 hình ảnh đại diện từ tập tin video trên ra bản ảnh.

Hai thẻ nhớ màu trắng, đen, loại Micro SD XC, nhãn hiệu Team Group, dung lượng 64GB. Dữ liệu trích xuất theo yêu cầu giám định, xác định:

  • - Có 05 tập tin video có tên “VIDEO_DOWNLOAD_1734171291854_ 1734171415734.mp4", dung lượng 1.65MB; “VIDEO_ DOWNLOAD_ 1734171291854_ 1734171461227.mp4", dung lượng 1.65MB; “VIDEO_ DOWNLOAD_ 1734171291900_ 1734171461342.mp4", dung lượng 2.21MB"; “VIDEO_DOWNLOAD_ 1734171291952_1734171451404.mp4", dung lượng 27.9MB; “VIDEO_ DOWNLOAD_1734171291952_ 1734171461461.mp4", dung lượng 27.9MB. Sao chép toàn bộ video sang đĩa DVD.
  • - Trích xuất 08 hình ảnh đại diện từ tập tin video trên ra bản ảnh.

Tại bản cáo trạng số 53/CT – VKS, ngày 10/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi truy tố Bùi D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi giữ nguyên quyết định truy tố đối với Bùi Duy P về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Duy P mức án từ 05 (năm) đến 06 (sáu) năm tù.

4

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng.

  • - Chín chiếc điện thoại di động bị cáo đã trộm cắp ngày 14/12/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra xác định là tài sản thuộc sở hữu của anh Trịnh T nên đã trả lại cho chủ sở hữu là đúng pháp luật.
  • - Chiếc điện điện thoại di động màu xanh, nhãn hiệu Samsung là tài sản của bị cáo Bùi Duy P, chiếc điện thoại này không liên quan đến vụ án nên đề nghị tuyên trả lại cho bị cáo.
  • - Chiếc áo khoác dài tay màu đen và 01 cái quần dài Jean, màu xanh và số tiền số tiền 750.000 đồng (bảy trăm năm mươi nghìn đồng) là tài sản của bị cáo Bùi Duy P không liên quan đến vụ án nên đề nghị tuyên trả lại cho bị cáo.
  • - Một thẻ nhớ màu trắng, đen, loại Micro SD HCI, nhãn hiệu SanDisk Ultra, dung lượng 32 GB tạm giữ của anh Trịnh Trường . Hai thẻ nhớ màu trắng, đen, loại Micro SD XC, nhãn hiệu Team Group, dung lượng 64GB tạm giữ của anh Nguyễn Phú H1, dữ liệu trong các thẻ nhớ trên đã trích xuất và in thành hình ảnh lưu vào hồ sơ vụ án, các thẻ nhớ đã trả lại cho chủ sở hữu là đúng pháp luật.
  • - Chiếc xe mô tô mang biển kiểm soát 76Y1-0588, số khung: LF3XCG009YAA02192, số máy: LF1P50FMG - Y0322972, nhãn hiệu WEAL, màu nâu bị cáo dùng làm phương tiện đi trộm cắp, Cơ quan cảnh sát điều tra chưa xác định được chủ sở hữu nên yêu cầu tiếp túc xác minh làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Trịnh T đã nhận lại toàn bộ tài sản 09 chiếc điện thoại di động do bị can Bùi Duy P trộm cắp và không yêu cầu gì thêm về phần dân sự, nên không xét.

Về các vấn đề khác liên quan đến vụ án: Đối với Nguyễn Tăng Đ1, khi bị cáo Bùi Duy P liên lạc qua điện thoại với mục đích để bán số điện thoại do bị cáo P đã trộm cắp cho Đ1, Đ1 đã từ chối không mua. Do đó, Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Tăng Đ1 là đúng pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên thu thập; người tham gia tố tụng khác cung cấp là phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

[1.2] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên là đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị

5

cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ai khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

[1.3] Tại phiên tòa, bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, riêng ông Phạm Ngọc H2 có mặt và người làm chứng vắng mặt lần thứ hai. Xét thấy, những người này đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của những người này không làm trở ngại, không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Duy P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như phần tóm tắt nội dung vụ án nêu trên, lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu, biên bản hiện trường, kết luận định giá tài sản và các chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận như sau:

Khoảng 12 giờ 55 phút, ngày 14/12/2024, bị cáo Bùi Duy P điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 76Y1-0588 đến tiệm mua bán điện thoại di của anh Trịnh T, lúc này tại tiệm điện thoại có chị Lê Thùy V đang ngủ nên bị cáo Bùi Duy P lén lút mở cửa tủ lấy 09 (chín) điện thoại di động, gồm: Một điện thoại di động màu xanh dương, nhãn hiệu Xiaomi; một điện thoại di động màu xanh dương, nhãn hiệu Vivo; một điện thoại di động màu trắng, nhãn hiệu Oppo; một điện thoại di động màu đỏ, nhãn hiệu Samsung, loại Glaxy A10S; một điện thoại màu xanh rêu, nhãn hiệu Samsung, loại Glaxy A52S; một điện thoại di động màu xanh dương, nhãn hiệu Poco; một điện thoại di động màu xanh lơ, nhãn hiệu Vivo; một điện thoại di động màu xanh, nhãn hiệu Samsung, loại Glaxy A11 và một điện thoại di động nhãn hiệu Appple, loại Iphone8 Plus rồi bị cáo bỏ vào áo khoác.

Sau khi chiếm đoạt 09 chiếc điện thoại, bị cáo Bùi Duy P điều khiển xe đi đến tiệm mua bán điện thoại di động của anh Nguyễn Phú H1 để tìm Nguyễn Tăng Đ1 với mục đích để bán số điện thoại trên cho Đ1 nhưng không gặp Đ1, nên bị báo bảo anh Nguyễn Phú H1 gọi điện thoại cho Đ1 nói chuyện về những chiếc điện thoại và muốn chụp hình gửi cho anh Đ1 xem những chiếc điện thoại. Đ1 sợ điện thoại đó là P là do trộm cắp nên Đ1 nói không mua và tắt nguồn điện thoại, bị cáo bỏ đi. Sau đó, bị cáo quay lại tiệm điện thoại của anh Nguyễn Phú H1 để tìm Nguyễn Tăng Đ1 lần nữa nhưng vẫn không gặp, nên bị cáo mang 09 điện thoại di động đến tiệm mua bán điện thoại của anh Trịnh T thì bị Công an xã B bắt giữ bị cáo cùng 09 chiếc điện thoại di động.

Theo kết luận của Hội đồng định giá của cơ quan tiế hành tố tụng huyện B kết luận 09 chiếc điện thoại tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị 19.300.000 đồng (mười chín triệu ba trăm nghìn đồng).

Tuy nhiên, ngày 08/02/2007, Bùi Duy P có hành vi Tàng trữ trái phép trái

6

phép chất ma túy, bị Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt 04 năm 06 tháng tù; xử phạt bổ sung 5.000.000 đồng, nộp án phí hình sự sơ thẩm 50.000 đồng theo Bản án số 180/HSST ngày 13/7/2007. Bị cáo đã chấp hành xong án phạt tù ngày 08/8/2011. Đến thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của anh Trịnh T (ngày 14/12/2024), bị cáo chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung nên chưa được xóa án tích. Đồng thời, bản án số 180/HSST ngày 13/7/2007 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh tuyên xử bị cáo Bùi Duy P phạm tội thuộc trường hợp tái phạm. Do đó, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn truy tố bị cáo Bùi Duy P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Duy P cho rằng ngày 14/12/2024, bị cáo đến tiệm của anh T là vì lý do trước đó anh T sửa điện thoại làm mất dữ liệu, hư điện thoại của bị cáo nên bị cáo lấy điện thoại của anh T để gây sức ép buộc anh T phải gặp bị cáo, bị cáo không có ý định trộm cắp điện thoại của anh T, bị cáo cũng không hiểu vì sao bị cáo làm như vậy, nên bị cáo không phạm tội trộm cắp tài sản.

Bị cáo đến tiệm điện thoại của anh T không có anh T ở tiệm, nhân viên đang ngủ, bị cáo cáo lén lút trộm cắp 09 điện thoại di động bỏ vào áo khoác, rời khỏi hiện trường, sau đó bị cáo liên hệ với Nguyễn Tăng Đ1 để bán số điện thoại đã trộm cắp, anh Đ1 không mua. Hành vi trên của bị cáo là đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản. Vì tiệm điện thoại của anh T có gắn camera, bị cáo sợ bị phát hiện nên quay trở lại tiệm điện thoại của anh T với ý định trả lại tài sản đã trộm cắp thì bị cơ quan chức năng bắt giữ và thu giữ toàn bộ các điện thoại mà bị cáo đã trộm cắp trước đó. Do đó, lời khai trên của bị cáo là không phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, không có căn cứ nào khác để chứng minh bị cáo không phạm tội trộm cắp tài sản như lời khai báo của bị cáo. Tại phiên tòa, bị cáo không thành khẩn khai báo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn không áp dụng tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo là đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Bị cáo Bùi Duy P có đầy đủ năng lực nhận thức và năng lực hành vi, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định. Bị cáo lợi dụng sở hở việc quản lý của nhân viên cửa hàng điện thoại di động “Trường 1989”, bị cáo đã lén lút trộm cắp 09 chiếc điện thoại di động, bỏ vào áo khoác và rời khỏi hiện trường. Hành vi nêu trên của bị cáo là xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo gây mất trật tự an ninh cho xã hội tại khu xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi. Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị Tòa án xử phạt tù, bị Công an xử phạt vi phạm hành chính nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân, chứng tỏ bị cáo xem thường pháp luật, xem thường quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Sau khi phạm tội, bị cáo không thành khẩn khai báo, không biết ăn năn hối cải về hành vi đã gây ra, do đó cần có mức án nghiêm khắc để re đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

7

[4.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiế tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4.2] Về tình tiết giảm trách nhiệm hình sự:

Sau khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, bị cáo mang tài sản đã trộm cắp quy trở lại tiệm điện thoại của anh T và có ý định trả lại cho anh T, thể hiện bị cáo khắc phục hậu quả cho bị hại; bị cáo có ông ngoại là người có công với cách mạng. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[4.3]. Về nhân thân: Ngày 30/7/2004, bị Tòa án nhân dân Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 06/06/2013, bị Tòa án nhân dân Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép trái phép chất ma túy”; Ngày 16/9/2019, bị Công an huyện B xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Đánh bạc. Ngày 01/12/2022, bị Công an huyện B xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo có nhân thân xấu.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng.

[6.1] Chín chiếc điện thoại di động bị cáo Bùi Duy P đã trộm cắp ngày 14/12/2024 là tài sản thuộc sở hữu của anh Trịnh T, nên cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là đúng pháp luật.

[6.2] Chiếc điện điện thoại di động màu xanh, nhãn hiệu Samsung, số tiền mặt số tiền 750.000 đồng (bảy trăm năm mươi nghìn đồng), một cái áo khoác dài tay màu đen và 01 cái quần dài Jean, màu xanh là tài sản của bị cáo Bùi Duy P, những tài sản, vật chứng trên không liên quan đến vụ án nên tuyên trả lại cho bị cáo.

[6.3] Một thẻ nhớ màu trắng, đen, loại Micro SD HCI, nhãn hiệu SanDisk Ultra, dung lượng 32 GB tạm giữ của anh Trịnh Trường . Hai thẻ nhớ màu trắng, đen, loại Micro SD XC, nhãn hiệu Team Group, dung lượng 64GB tạm giữ của anh Nguyễn Phú H1, dữ liệu trong các thẻ nhớ trên đã trích xuất và in thành hình ảnh lưu vào hồ sơ vụ án, các thẻ nhớ trên đã trả lại cho chủ sở hữu là đúng pháp luật.

[6.4] Chiếc xe mô tô mang biển kiểm soát 76Y1-0588, số khung: LF3XCG009YAA02192, số máy: LF1P50FMG - Y0322972, nhãn hiệu WEAL, màu nâu bị cáo dùng làm phương tiện đi trộm cắp, cơ quan cảnh sát điều tra chưa xác định được chủ sở hữu nên đề nghị tiếp túc xác minh làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật.

8

[7] Về trách nhiệm dân sự: Anh Trịnh T đã nhận lại toàn bộ tài sản là 09 chiếc điện thoại di động do bị cáo Bùi Duy P trộm cắp và không yêu cầu gì thêm về phần dân sự nên không xét.

[8] Về các vấn đề khác liên quan đến vụ án:

Đối với anh Nguyễn Tăng Đ1, khi bị cáo Bùi Duy P liên lạc qua điện thoại với nội dung liên quan đến các điện thoại di động bị cáo P đã trộm cắp, anh Nguyễn Tăng Đ1 đã từ chối mua. Do đó, Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự đối với anh Nguyễn Tăng Đạt Đ1 là có căn cứ, đúng pháp luật.

[9] Xét ý kiến tranh luận của bị cáo là không phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

[10] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa không có ý kiến tranh luận.

[11] Xét ý kiến đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn về tội danh, áp dụng pháp luật, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân, xử lý vật chứng và về phần dân sự là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Về mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo là có phần nghiêm khắc, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[12] Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm án cho bị cáo.

[13] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[14] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự;

    Tuyên bố bị cáo Bùi Duy P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt bị cáo Bùi Duy P 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo tạm giữ, tạm giam ngày 15/12/2024.

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

    2.1. T2 trả lại chiếc điện thoại di động màu xanh, nhãn hiệu Samsung; một cái áo khoác dài tay màu đen và 01 cái quần dài Jean, màu xanh cho bị cáo Bùi Duy P.

    2.2. Tuyên trả lại số tiền mặt 750.000 đồng (bảy trăm năm mươi nghìn đồng) cho bị cáo Bùi Duy P, số tiền trên đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Sơn.

9

  1. Tiếp tục tạm giữ xe mô tô biển kiểm soát 76Y1-058, số khung LF3XCG009YAA02192, số máy LF1P50FMG – Y0322972 và đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q tiếp túc xác minh làm rõ chủ sở hữu và xử lý theo quy định của pháp luật.

    (Các tài sản nêu trên có đặc điểm theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19/5/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi)

  2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ Luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Bùi Duy P phải nộp án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

  3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 12/6/2025. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ngãi;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ngãi (Phòng 7);
  • - Phòng CSTHAHS và hỗ trợ tư pháp CA tỉnh Quảng Ngãi;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra;
  • - VKSND và CC.THADS huyện B.Sơn;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hùng Thanh Vũ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 77/2025/HS –ST ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 77/2025/HS –ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger