Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 7 – NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 77/2025/HS-ST

Ngày: 04-12-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Trường

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trịnh Thị Kim Cúc

Ông Triệu Văn Giản

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Huyền Thương - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 12 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 72/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh ngày 04-3-1994, tại tỉnh Ninh Bình; số căn cước công dân:[...]; nơi đăng ký thường trú: Số nhà E đường G, phường N, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Số nhà E đường T, phường N, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hoài B và bà Nguyễn Thị H; có vợ: Trần Thị Hồng N (đã ly hôn năm 2023) và 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09-9-2025, đến ngày 11-9-2025 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 3 Công an tỉnh N. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Nguyễn Thị Mai H1, sinh năm 1979, số căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký thường trú: Số B đường P, phường N, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Số E đường N, phường N, tỉnh Ninh Bình. (Vắng mặt tại phiên tòa)
  2. Anh Đỗ Quốc H2, sinh năm 1990; số căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Xóm B P, phường V, tỉnh Ninh Bình. (Vắng mặt tại phiên tòa)
  3. Anh Nguyễn Đức H3, sinh năm 1994; số căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số D đường N, phường N, tỉnh Ninh Bình. (Vắng mặt tại phiên tòa)
  4. Anh Trần Mạnh C, sinh năm 1990; số căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số A đường H, phường N, tỉnh Ninh Bình. (Vắng mặt tại phiên tòa)
  5. Anh Ninh Ngọc T1, sinh năm 1974; số căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số A đường T, phường N, tỉnh Ninh Bình. (Vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn T, sinh năm 1994 không đăng ký kinh doanh trong hoạt động tín dụng nhưng vẫn cho vay tiền trái quy định Nhà nước với lãi suất cao để thu lợi bất chính. Khi vay tiền, người vay phải viết giấy vay tiền nhưng không thể hiện nội dung lãi suất. T sử dụng tài khoản Ngân hàng thương mại cổ phần Q (M) số 7780123431694 của T để chuyển khoản cho người vay hoặc đưa tiền mặt, thống nhất mức lãi suất từ 3.000 đồng đến 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương với mức lãi suất 109,5% đến 182,5%/năm), T thu tiền lãi định kỳ vào ngày đầu tháng hoặc 10 ngày, 20 ngày tuỳ theo thoả thuận của người vay (quy ước 01 tháng là 30 ngày). T sử dụng số điện thoại 0854.945.xxx đăng ký Zalo hoặc Facebook tên “Nguyễn Văn T” để liên lạc người vay khi đến kỳ đóng lãi. Đến ngày 08/9/2025 khi bị Cơ quan công an phát hiện, Nguyễn Văn T đã thực hiện hành vi cho vay lãi nặng đối với những người sau:

Trường hợp thứ nhất:

Đối với người vay là chị Nguyễn Thị Mai H1, sinh năm 1979, nơi đăng ký thường trú số B đường P, phường N, tỉnh Ninh Bình, nơi ở hiện tại số E đường N, phường N, tỉnh Ninh Bình: Tháng 02-2024 Nguyễn Văn T cho chị Nguyễn Thị Mai H1 vay 10.000.000 đồng, lãi suất 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, tương đương lãi suất 182,5%/1 năm, kỳ hạn đóng lãi 30 ngày một lần. Từ tháng 02-2024 đến tháng 8-2025, chị H1 đã trả cho T 18 kỳ lãi (540 ngày) với tổng số tiền 27.000.000 đồng. Sau khi trả hết lãi tháng 8-2025, chị H1 và T thỏa thuận dừng trả lãi để chị H1 thu xếp tiền trả nợ gốc cho T. Đến ngày 08-9-2025 chị H1 chưa trả T số tiền nợ gốc. Theo quy định của pháp luật, số tiền lãi tối đa của 540 ngày là 20% x 10.000.000 đồng : 365 ngày x 540 ngày = 2.958.904 đồng. Sau khi trừ đi số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, số tiền T thu lợi bất chính là 27.000.000 – 2.958.904 = 24.041.096 đồng.

Trường hợp thứ hai:

Đối với người vay là anh Đỗ Quốc H2, sinh năm 1990, trú tại xóm B P, phường V, tỉnh Ninh Bình:

- Lần vay thứ nhất: Tháng 5-2024 T cho anh H2 vay 10.000.000 đồng, lãi suất 3.000 đồng/1 triệu/1 ngày tương đương với mức lãi suất 109,5%/ 1 năm, kỳ hạn đóng lãi 30 ngày một lần. Từ tháng 5/2024 đến tháng 6-2025, anh H2 đã trả cho T 14 kỳ lãi (420 ngày) với tổng số tiền là 12.600.000 đồng. Sau khi trả hết lãi tháng 6-2025, anh H2 và T thỏa thuận dừng trả lãi để anh H2 thu xếp tiền trả nợ gốc cho T. Đến ngày 08-9-2025 anh H2 chưa trả T số tiền nợ gốc. Theo quy định của pháp luật, số tiền lãi tối đa của 420 ngày trong trường hợp này là 20% x 10.000.000 đồng : 365 ngày x 420 ngày = 2.301.370 đồng. Sau khi trừ đi số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, số tiền T thu lợi bất chính là 12.600.000 – 2.301.370 = 10.298.630 đồng.

- Lần vay thứ hai: Tháng 12-2024 T cho anh H2 vay 20.000.000 đồng, lãi suất 3.000 đồng/1 triệu/1 ngày tương đương với mức lãi suất 109,5%/1 năm, kỳ hạn đóng lãi 30 ngày một lần. Từ tháng 12-2024 đến tháng 6-2025, anh H2 đã trả cho T 07 kỳ lãi (210 ngày) với tổng số tiền là 12.600.000 đồng. Sau khi trả hết lãi tháng 6/2025, anh H2 và T thỏa thuận dừng trả lãi để anh H2 thu xếp tiền trả nợ gốc cho T. Đến ngày 08-9-2025 anh H2 chưa trả T số tiền nợ gốc. Theo quy định của pháp luật, số tiền lãi tối đa của 210 ngày trong trường hợp này là 20% x 20.000.000 đồng : 365 ngày x 210 ngày = 2.301.370 đồng. Sau khi trừ đi số tiền tương ứng với mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, số tiền T thu lợi bất chính là 12.600.000 – 2.301.370 = 10.298.630 đồng.

Tổng số tiền gốc mà T đã cho anh H2 vay là 30.000.000 đồng và thu lợi bất chính 20.597.260 đồng.

Trường hợp thứ ba:

Đối với người vay là anh Nguyễn Đức H3, sinh năm 1994, trú tại số D đường N, phường N, tỉnh Ninh Bình:

Tháng 4-2024, T cho anh H3 vay 5.000.000 đồng, lãi suất 5.000 đồng/ 1 triệu/1 ngày tương đương với mức lãi suất 182,5%/1 năm, kỳ hạn đóng lãi 30 ngày một lần. Từ tháng 4-2024 đến tháng 12-2024, anh H3 đã trả cho T 09 kỳ lãi (270 ngày) với tổng số tiền là 6.750.000 đồng. Sau khi trả hết lãi tháng 12-2024, anh H3 đã trả cho T số tiền nợ gốc và kết thúc khoản vay. Theo quy định của pháp luật, số tiền lãi tối đa của 270 ngày trong trường hợp này là 20% x 5.000.000 đồng : 365 ngày x 270 ngày = 739.726 đồng. Sau khi trừ đi số tiền tương ứng với mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, số tiền T thu lợi bất chính là 6.750.000 – 739.726 = 6.010.274 đồng.

Trường hợp thứ tư:

Đối với người vay là anh Trần Mạnh C, sinh năm 1990, trú tại số A đường H, phường N, tỉnh Ninh Bình:

- Lần vay thứ nhất: Tháng 6-2023 T cho anh C vay 30.000.000 đồng, lãi suất 3.000 đồng/1 triệu/1 ngày tương đương với mức lãi suất 109,5%/1 năm, kỳ hạn đóng lãi 10 ngày một lần. Từ tháng 6-2023 đến tháng 7-2025, anh C đã trả cho T 78 kỳ lãi (780 ngày) với tổng số tiền là 70.200.000 đồng. Sau khi trả hết lãi tháng 7-2025, anh C và T thỏa thuận dừng trả lãi để anh C trả nợ gốc cho T. Đến ngày 08-9-2025 anh C chưa trả T số tiền nợ gốc trên. Theo quy định của pháp luật, số tiền lãi tối đa của 780 ngày trong trường hợp này là 20% x 30.000.000 đồng : 365 ngày x 780 ngày = 12.821.918 đồng. Sau khi trừ đi số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, số tiền T thu lợi bất chính là 70.200.000 – 12.821.918 = 57.378.082 đồng.

- Lần vay thứ hai: Tháng 5-2025, T cho anh C vay 10.000.000 đồng, lãi suất 3.000 đồng/1 triệu/1 ngày tương đương với mức lãi suất 109,5%/1 năm, kỳ hạn đóng lãi 30 ngày một lần. Từ tháng 5/2025 đến tháng 7/2025, anh C đã trả cho T 02 kỳ lãi (60 ngày) với tổng số tiền là 1.800.000 đồng. Sau khi trả hết lãi tháng 7-2025, anh C và T thỏa thuận dừng trả lãi để anh C thu xếp tiền trả nợ gốc cho T. Đến ngày 08-9-2025 anh C chưa trả T số tiền nợ gốc trên. Theo quy định của pháp luật, số tiền lãi tối đa của 60 ngày trong trường hợp này là 20% x 10.000.000 đồng : 365 ngày x 60 ngày = 328.767 đồng. Sau khi trừ đi số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, số tiền T thu lợi bất chính là 1.800.000 – 328.767= 1.471.233 đồng.

Tổng số tiền gốc mà T đã cho anh C vay là 40.000.000 đồng và thu lợi bất chính 58.849.315 đồng.

Trường hợp thứ năm:

Đối với người vay là anh Ninh Ngọc T1, sinh năm 1974, trú tại số A đường T, phường N, tỉnh Ninh Bình:

- Lần vay thứ nhất: Tháng 2-2024, T cho anh T1 vay 15.000.000 đồng, lãi suất 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày tương đương với mức lãi suất 182,5%/1 năm, kỳ hạn đóng lãi 30 ngày một lần. Từ tháng 2-2024 đến tháng 9/2024, anh T1 đã trả cho T 8 kỳ lãi (240 ngày) với tổng số tiền là 18.000.000 đồng. Sau khi trả hết lãi tháng 9-2024, anh T1 đã trả số tiền nợ gốc cho T và kết thúc khoản vay. Theo quy định của pháp luật, số tiền lãi tối đa của 240 ngày trong trường hợp này là 20% x 15.000.000 đồng : 365 ngày x 240 ngày = 1.972.602 đồng. Sau khi trừ đi số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, số tiền T thu lợi bất chính là 18.000.000 – 1.972.602 = 16.027.398 đồng.

- Lần thứ hai: Khoảng đầu tháng 7-2025, T cho anh T1 vay 20.000.000 đồng, lãi suất 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày tương đương với mức lãi suất 182,5%/1 năm, kỳ hạn đóng lãi 30 ngày một lần. Từ tháng 7-2025 đến tháng 9-2025, anh T1 đã trả cho T 02 kỳ lãi (60 ngày) với tổng số tiền là 6.000.000 đồng. Theo quy định của pháp luật, số tiền lãi tối đa của 60 ngày trong trường hợp này là 20% x 20.000.000 đồng : 365 ngày x 60 ngày = 657.534 đồng. Sau khi trừ đi số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, số tiền T thu lợi bất chính là 6.000.000 – 657.534 = 5.342.466 đồng.

- Lần thứ ba: Khoảng giữa tháng 7-2025, T cho anh T1 vay 10.000.000 đồng, lãi suất 5.000 đồng/triệu/ngày tương đương với mức lãi suất 182,5%/năm, kỳ hạn đóng lãi 30 ngày một lần. Từ tháng 7-2025 đến tháng 9/2025, anh T1 đã trả cho T 02 kỳ lãi (60 ngày) với tổng số tiền là 3.000.000 đồng. Theo quy định của pháp luật, số tiền lãi tối đa của 60 ngày trong trường hợp này là 20% x 10.000.000 đồng : 365 ngày x 60 ngày = 328.767 đồng. Sau khi trừ đi số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, số tiền T thu lợi bất chính là 3.000.000 – 328.767 = 2.671.233 đồng.

Tổng số tiền gốc mà T đã cho anh T1 vay là 45.000.000 đồng và thu lợi bất chính 24.041.097 đồng.

Ngân hàng thương mại cổ phần Q đã cung cấp thông tin và sao kê lịch sử giao dịch của tài khoản ngân hàng mà Nguyễn Văn T sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã ra Lệnh phong tỏa tài khoản số 7780123431694 của Ngân hàng thương mại cổ phần Q của Nguyễn Văn T, tại thời điểm bị phong tỏa trong tài khoản có số tiền 1.104.405 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị Mai H1, anh Đỗ Quốc H2, anh Nguyễn Đức H3, anh Trần Mạnh C, anh Ninh Ngọc T1 yêu cầu Nguyễn Văn T trả lại số tiền đã thu lợi bất hợp pháp, trong đó chị Nguyễn Thị Mai H1 số tiền 24.041.096 đồng, anh Đỗ Quốc H2 số tiền 20.597.260 đồng, anh Nguyễn Đức H3 số tiền 6.010.274 đồng, anh Trần Mạnh C số tiền 58.849.315 đồng, anh Ninh Ngọc T1 số tiền 24.041.097 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Cáo trạng số 28/CT-VKS-KV7 ngày 12-11-2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình giữ quyền công tố và luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Căn cứ khoản 2 Điều 201; điểm b,i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 04 tháng tù đến 05 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09-9-2025.
  • Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Văn T.
  • Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo.
  • Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 1.104.405 đồng thu giữ trong tài khoản của bị cáo đã được chuyển từ tài khoản 3949.0.9044007 của Công an tỉnh N đến tài khoản 3949.0.1054125.00000 của Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình.
    • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền lãi theo quy định của pháp luật là 24.410958 đồng và số tiền gốc 18.896.000 đồng bị cáo đã khắc phục trong giai đoạn chuẩn bị xét xử.
    • - Truy thu số tiền nợ gốc đối với chị Nguyễn Thị Mai H1 là 10.000.000 đồng, đối với anh Đỗ Quốc H2 là 30.000.000 đồng, đối với anh Trần Mạnh C là 40.000.000 đồng, đối với anh Ninh Ngọc T1 là 30.000.000 đồng.
    • - Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Văn T không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo Nguyễn Văn T nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát để bị cáo có cơ hội cải tạo, trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn T trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Lời khai của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; biên bản đối chất; biên bản thu giữ vật chứng; bản sao kê các tài khoản ngân hàng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đã có đủ cơ sở khẳng định: Dù không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép hoạt động kinh doanh lĩnh vực tín dụng nhưng trong khoảng thời gian từ tháng 6-2023 đến ngày 08-9-2025, Nguyễn Văn T đã sử dụng số tiền 130.000.000 đồng cho chị Nguyễn Thị Mai H1, anh Đỗ Quốc H2, anh Nguyễn Đức H3, anh Trần Mạnh C và anh Ninh Ngọc T1 vay trái quy định với lãi suất từ 109,5%/1 năm đến 182,5%/1 năm (gấp từ 5,475 đến 9,125 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự), thu lợi bất chính tổng số tiền 133.539.042 đồng.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì mục đích thu lợi bị cáo vẫn cố ý thực hiện; lãi suất bị cáo cho vay từ 109,5%/1 năm đến 182,5%/1 năm, đã vượt quá 5 lần của mức lãi suất cao nhất 20%/năm quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Số tiền lãi bị cáo thu lợi bất chính là 133.539.042 đồng nên bị cáo Nguyễn Văn T đã phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong giai đoạn chuẩn bị xét xử bị cáo đã tác động với gia đình nộp lại số tiền gốc dùng để cho vay và số tiền lãi theo quy định của pháp luật; bị cáo cũng đã khắc phục toàn bộ số tiền lãi vượt quá quy định cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; gia đình bị cáo có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, hoàn cảnh khó khăn được địa phương xác nhận nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b,i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng tách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về hình phạt:

Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn T là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đối với tình hình an ninh trật tự địa phương nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo. Tuy nhiên bị cáo được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên Hội đồng xét xử sẽ chỉ xử phạt bị cáo ở dưới mức khởi điểm của khung hình phạt mà bị cáo bị truy tố.

[5] Về hình phạt bổ sung:

Xét thấy bị cáo Nguyễn Văn T không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, bản thân bị cáo là lao động chính trong gia đình, trước khi phạm tội bị cáo phải nuôi hai con nhỏ, gia đình bị cáo có đơn xin miễn hình phạt bổ sung được địa phương xác nhận nên Hội đồng xét xử sẽ không áp dụng áp hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • - Số tiền 1.104.405 đồng thu giữ trong tài khoản của bị cáo đã được chuyển từ tài khoản 3949.0.9044007 của Công an tỉnh N đến tài khoản 3949.0.1054125.00000 của Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình bị cáo dùng vào việc phạm tội cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
  • - Tổng số tiền gốc bị cáo cho chị Nguyễn Thị Mai H1, anh Đỗ Quốc H2, anh Nguyễn Đức H3, anh Trần Mạnh C, anh Ninh Ngọc T1 vay là 130.000.000 đồng. Số tiền gốc bị cáo đã thu được của anh Nguyễn Đức H3 là 5.000.000 đồng của anh Ninh Ngọc T1 là 15.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền gốc bị cáo Nguyễn Văn T bị truy thu là 130.000.000 đồng nhưng được trừ đi số tiền đã tuy thu của chị Nguyễn Thị Mai H1 là 10.000.000 đồng, anh Đỗ Quốc H2 là 30.000.000 đồng, anh Trần Mạnh C là 40.000.000 đồng, anh Ninh Ngọc T1 là 30.000.000 đồng và số tiền 1.104.405 đồng thu giữ trong tài khoản của bị cáo. Cụ thể là 130.000.000 đồng – 110.000.000 đồng - 1.104.405 đồng = 18.896.000 đồng (đã làm tròn). Số tiền này gia đình bị cáo đã nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình theo biên lai số 0001038 ngày 19-11-2025 sẽ bị tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước
  • - Số tiền lãi theo mức cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 là 20%/năm mà bị cáo đã thu được là 24.410.958 đồng, gia đình bị cáo đã nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình theo biên lai số 0001039 ngày 19-11-2025 sẽ bị tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước
  • - Các số tiền nợ gốc mà chị Nguyễn Thị Mai H1, anh Đỗ Quốc H2, anh Trần Mạnh C, anh Ninh Ngọc T1 chưa trả cho Nguyễn Văn T đều sẽ truy thu để sung vào ngân sách Nhà nước. Cụ thể: Truy thu đối với chị Nguyễn Thị Mai H1 số tiền là 10.000.000 đồng, truy thu đối với anh Đỗ Quốc H2 số tiền là 30.000.000 đồng, truy thu đối với anh Nguyễn Mạnh C1 số tiền là 40.000.000 đồng, truy thu đối với anh Ninh Ngọc T1 số tiền là 30.000.000 đồng.
  • - Đối với số thuê bao 0854.945.555 bị cáo dùng vào việc thực hiện hành vi phạm tội, vì vậy cần yêu cầu Tập đoàn B1 (V) ngừng cung cấp dịch vụ đối với số thuê bao 0854.945.555.
  • - Đối với số tài khoản 7780123431694 mở tại Ngân hàng TMCP Q (M1), bị cáo dùng vào việc thực hiện hành vi phạm tội, vì vậy yêu cầu Ngân hàng TMCP Q chấm dứt dịch vụ đối với tài khoản số 7780123431694 mang tên Nguyễn Văn T.

[7] Về nghĩa vụ dân sự:

Đối với số tiền lãi vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 mà bị cáo Nguyễn Văn T đã thu của chị Nguyễn Thị Mai H1 số tiền 24.041.096 đồng, anh Đỗ Quốc H2 số tiền 20.597.260 đồng, anh Nguyễn Đức H3 số tiền 6.010.274 đồng, anh Trần Mạnh C số tiền 58.849.315 đồng, anh Ninh Ngọc T1 số tiền 24.041.097 đồng. Bị cáo đã khắc phục toàn bộ số tiền trên cho chị H1, anh H2, anh H3, anh C, anh T1. Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[8] Về án phí:

Bị cáo Nguyễn Văn T bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 2 Điều 201; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025).

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 04 (Bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09-9-2025.

  2. Về xử lý vật chứng : Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 1.104.405 đồng (Một triệu một trăm linh bốn nghìn bốn trăm linh năm đồng) thu giữ trong tài khoản của bị cáo đã được chuyển từ tài khoản 3949.0.9044007 của Công an tỉnh N đến tài khoản 3949.0.1054125.00000 của Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình.
    • (Vật chứng có đặc điểm như quyết định chuyển vật chứng số 21/QĐ-VKS-KV7, ngày 12-11-2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình).
    • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 18.896.000 đồng (Mười tám triệu tám trăm chín mươi sáu nghìn đồng) theo biên lai số 0001038 ngày 19-11-2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình
    • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 24.410.958 đồng (Hai mươi bốn triệu bốn trăm mười nghìn chín trăm năm mươi tám đồng) theo biên lai số 0001039 ngày 19-11-2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình.
    • - Truy thu đối với chị Nguyễn Thị Mai H1 số tiền nợ gốc chưa trả là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
    • - Truy thu anh Đỗ Quốc H2 số tiền nợ gốc chưa trả là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
    • -Truy thu đối với anh Nguyễn Mạnh C1 số tiền nợ gốc chưa trả là 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
    • - Truy thu đối với anh Ninh Ngọc T1 số tiền nợ gốc chưa trả là 30.000.000 đồng Ba mươi triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
    • - Yêu cầu Tập đoàn B1 (V) ngừng cung cấp dịch vụ đối với số thuê bao 0854.945.555.
    • - Yêu cầu Ngân hàng TMCP Q chấm dứt dịch vụ đối với tài khoản số 7780123431694 mang tên Nguyễn Văn T.
  3. Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội:

    Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Quyền kháng cáo:

    Bị cáo Nguyễn Văn T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị Mai H1, anh Đỗ Quốc H2, anh Nguyễn Đức H3, anh Trần Mạnh C, anh Ninh Ngọc T1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND khu vực 7 - Ninh Bình;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh Ninh Bình;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Văn Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 77/2025/HS-ST ngày 04/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – NINH BÌNH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 77/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger