Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VŨNG TÀU

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

Bản án số: 77/2025/HS-ST

Ngày 03-04-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TP.VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Dương Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hà Văn Trường

2. Ông Đặng Song Hoàn

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Lan Hương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa–Vũng Tàu tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Thụy - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 04 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 42/2025/HSST ngày 04 tháng 03 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc Ph, sinh năm 1996 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; Hộ khẩu thường trú: S đường L, phường N, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu; nơi ở trước khi bị bắt: M đường L, phường N, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nghề nghiệp: Giao hàng; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1959 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Bạch T, sinh năm 1963; gia đình có 03 chị em bị cáo là con thứ 3. Vợ: Tất Tú M, sinh năm 1999 (đã ly hôn); con: Nguyễn Ngọc A, sinh năm 2020.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt ngày 05-12-2024. Hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực thành phố Vũng Tàu, Trại tạm giam Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (có mặt).

Bị hại: Ông Nguyễn Mạnh L, sinh năm 1987; Địa chỉ: S đường N, phường N, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị Kim N, sinh năm 1968; Địa chỉ: B đường K, Phường B, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do thiếu tiền tiêu xài nên Nguyễn Ngọc P đi bộ trên một số hẻm đường N, phường N, thành phố Vũng Tàu tìm tài sản sơ hở của người dân để trộm cắp. Đến khoảng 20 giờ 40 phút ngày 03 tháng 12 năm 2024, khi đi ngang qua nhà anh Nguyễn Mạnh L ở số S đường N, phường N, thành phố Vũng Tàu thì P phát hiện chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đen, biển số 72C2-288.43 của anh L dựng trước cửa nhà không có người trông coi nên lén lút đến lấy chiếc xe dắt ra ngoài đường rồi khởi động máy chạy đi. Sau khi chiếm đoạt được chiếc xe, Phương chạy đến gặp Lê Thị Kim N ở số B đường K, Phường B, thành phố Vũng Tàu cầm được 2.000.000 đồng và tiêu xài hết. Phát hiện xe bị mất, anh Nguyễn Mạnh L đã đến Cơ quan Công an trình báo vụ việc.

Ngày 05-12-2024, Nguyễn Ngọc P đã đến cơ quan Công an phường N đầu thú về hành vi trộm cắp tài sản của mình. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Vũng Tàu, Nguyễn Ngọc P đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình như trên.

Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Vũng Tàu đã thu giữ tài liệu, đồ vật và vật chứng gồm:

- 01 xe mô tô hiệu Yamaha (loại Sirius), màu đen, biển số: 72C2-288.43, số máy: E32KE113883, số khung: 3740LY037131 do anh Nguyễn Mạnh L mua của một người (không rõ nhân thân lai lịch) trên đường Đ, phường N, thành phố Vũng Tàu vào năm 2020 chưa làm thủ tục sang tên. Qua xác minh xe trên có 72C2-288.43, Yamaha (loại Sirius), màu đen, đứng tên chủ sở hữu là anh Phạm Huy T. Quá trình làm việc, anh T khai nhận mua chiếc xe trên vào năm 2020 sau đó bán cho một người không nhớ rõ tên tuổi, địa chỉ và anh T cam kết không có tranh chấp quyền sở hữu chiếc xe trên. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu bảo quản, chờ xử lý.

- Về phần dân sự: Anh Nguyễn Mạnh L yêu cầu nhận lại chiếc xe mô tô hiệu Yamaha (loại Sirius), màu đen, biển số 72C2-288.43.

Đối với bà Lê Thị Kim N không yêu cầu P phải trả lại số tiền 2.000.000 đồng.

Kết luận định giá tài sản số 17/KL-HĐĐG-TTHS ngày 09-12-2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự thành phố Vũng Tàu kết luận: 01 xe mô tô hiệu Yamaha (loại Sirius), màu đen, biển số 72C2-288.43, số máy: E32KE113883, số khung: 3740LY037131, có giá trị 7.500.000 đồng.

Bản cáo trạng số 48/CT-VKSVT ngày 03-03-2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu truy tố Nguyễn Ngọc P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc P từ 09 đến 12 tháng tù giam. Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tuyên trả cho bị hại Nguyễn Mạnh L 01 xe mô tô hiệu Yamaha (loại Sirius), màu đen, biển số 72C2-288.43, số máy: E32KE113883, số khung: 3740LY037131.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh; bị cáo không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, chỉ xin Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án nhẹ để bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tố tụng:

    Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an thành phố Vũng Tàu và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

  2. Về tội danh và điều luật áp dụng:

    Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận khoảng 20 giờ 40 phút ngày 03-12-2024 tại số nhà S đường N, phường N, thành phố Vũng Tàu bị cáo đã thực hiện hành vi lén lút trộm cắp tài sản là chiếc xe mô tô hiệu Yamaha (loại Sirius), màu đen, biển số: 72C2-288.43, số máy: E32KE113883, số khung: 3740LY037131 của bị hại có trị giá 7.500.000 đồng.

    Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và bị hại, phù hợp với kết quả định giá và các tài liệu, chứng cứ khác đã được các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra lại tại phiên tòa. Vì vậy, hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

  3. Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án tương ứng với hành vi phạm tội, nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
  4. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo ra đầu thú, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt khi lượng hình.
  5. Về xử lý vật chứng: 01 xe mô tô hiệu Yamaha (loại Sirius), màu đen, biển số 72C2-288.43, số máy: E32KE113883, số khung: 3740LY037131 là tài sản của bị hại, bị hại có yêu cầu nhận lại nên xem xét trả lại cho bị hại.
  6. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu gì về phần trách nhiệm dân sự đối với bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu gì về phần trách nhiệm dân sự đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  7. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm i,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc P 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05 tháng 12 năm 2024.
  3. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Tuyên trả cho bị hại Nguyễn Mạnh L 01 xe mô tô hiệu Yamaha (loại Sirius), màu đen, biển số: 72C2-288.43, số máy: E32KE113883, số khung: 3740LY037131

    (Vật chứng đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Vũng Tàu theo Biên bản giao nhận vật chứng số 131/ BB-CCTHADS ngày 26 tháng 03 năm 2025).

  4. Án phí sơ thẩm: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử theo thủ tục phúc thẩm; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - VKSND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ( PV27);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - VKSND Tp. Vũng Tàu;
  • - Chi cục THADS Tp. Vũng Tàu;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 77/2025/HS-ST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 77/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger