Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số: 77/2025/HS-PT

Ngày 25 - 6 - 2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Vĩnh Thành.

Các Thẩm phán: Ông Vũ Văn Mạnh.

Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.

Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Linh Chi - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ánh Nguyệt - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 88/2025/TLPT-HS ngày 12 tháng 05 năm 2025, đối với bị cáo Nguyễn Văn T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 31/2025/HS-ST ngày 09 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn T; Sinh ngày 12/11/1999; Nơi ĐKNKTT: Thôn H, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Kim Thị N; có vợ là Nguyễn Thị T2 và có 01 con, sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/8/2024 đến nay, hiện bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh V; (Có mặt tại phiên tòa).

Người bào chữa cho bị cáo T: Ông Nguyễn Tiến H, sinh năm 1975 – Luật sư Công ty L1, đoàn Luật sư thành phố H.

Địa chỉ: Số A ngõ B, đường K, phường K, quận T, thành phố Hà Nội; (Có mặt).

Các bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, không bị kháng nghị: Nguyễn Văn T3, Nguyễn Đăng K, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Văn Đ sinh năm 1998, Nguyễn Văn Đ sinh năm 2002, Nguyễn Anh T4, Phạm Thị P, Đỗ Thị Bích D, Nguyễn Văn T, Đặng Thị V.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 23/5/2024, Nguyễn Anh T4 và Nguyễn Văn T gặp nhau tại đám cưới của một người bạn ở xã Đ, huyện Y. Tại đây, T4 rủ T đi sử dụng ma túy tại quán K4 ở xã K, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc nhưng T từ chối. Sau đó, T4 sử dụng tài khoản ứng dụng Zalo, M đều có tên “Nguyễn Anh T4” của mình liên hệ đến tài khoản có tên là “Đăng Khoa” của Nguyễn Đăng K và tài khoản Z có tên “Nguyễn Văn " của Nguyễn Văn Đ, sinh năm 2002 để rủ K, Đ đi sử dụng ma túy tại quán K4 thì cả 2 đối tượng đều đồng ý. T4 và K thống nhất sẽ rủ thêm một số bạn bè khác tham gia cùng, trong đó K là người liên hệ rủ T vì K muốn T tham gia cùng. Sau đó K sử dụng tài khoản Messenger của mình liên hệ đến tài khoản M có tên là “Tiến Bam Boo” của T để rủ đi sử dụng ma tuý thì T đồng ý còn T4 sử dụng tài khoản Zalo của mình nhắn tin đến tài khoản M, Z đều có tên “Văn Đức” của Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1998 để rủ Đ sinh năm 1998 đi sử dụng ma túy, biết K cũng tham gia nên Đ sinh năm 1998 đồng ý. Các đối tượng thống nhất sẽ gặp nhau tại cây xăng Đ1, huyện Y.

Sau khi biết T đã đồng ý đi sử dụng ma tuý, T4 đi bộ đến nhà T để thống nhất về việc rủ bạn bè, góp tiền mua, đi sử dụng ma tuý tại quán K4 86 tại xã K, huyện V và T sẽ là người liên hệ đặt phòng, mua tuý để sử dụng. Khoảng 20 giờ 35 phút 23/5/2024, T sử dụng tài khoản Messenger của mình nhắn tin đến tài khoản M “Hà Phương” của Phạm Thị P (là nữ nhân viên của quán K4) để nhờ P đặt hộ 01 phòng hát tại quán K4 86, 05 nữ nhân viên phục vụ và mua hộ 03 viên ma tuý kẹo, 01 chỉ Ketamine để khi các đối tượng đến sẵn có sử dụng. Do biết Nguyễn Văn T3 (là chủ quán K4) có nhiều mối quan hệ có thể mua được ma túy cho những người trên sử dụng nên P đã sử dụng tài khoản Zalo có tên “Chippy" của P gọi điện, nhắn tin đến tài khoản Z có tên “Thạch Coi” của T3 thông báo cho T3 biết việc có khách đặt phòng hát, nhân viên phục vụ và nhờ mua ma tuý để sử dụng, T3 hiểu ý nên nhận lời đồng ý và P cũng thông báo lại cho T biết việc đó.

Sau khi trao đổi với T xong, T4 gọi xe taxi BKS: 88A-147.49 do anh Phùng Văn L, sinh năm 1976, trú tại thôn H, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc đến đón T4 rồi đi đón Đ sinh năm 1998 đến cây xăng Đ thuộc xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc và đợi các đối tượng khác đến.

Khoảng gần 21 giờ cùng ngày, Nguyễn Đăng K điều khiển xe mô tô BKS 88S6-2132 đến nhà T đón T. Đến nơi, K gặp Nguyễn Văn H1 đang đứng nói chuyện với T tại khu vực sân, cổng nhà T. Tại đây, T rủ H1 đi sử dụng ma túy cùng mọi người. H1 mặc dù không có tiền nhưng được biết đi hát, sử dụng ma túy không hết nhiều tiền và sẽ có người đứng ra trả tiền trước, sau sẽ chia đều cho mỗi người tham gia nên đồng ý. Sau đó K điều khiển xe máy chở T, H1 đến cây xăng Đ1 rồi gửi xe tại đó rồi đi bộ ra gặp T4 và Đ sinh năm 1998. Tại đây các đối tượng gồm: T4, K, Đ sinh năm 1998, T, H1 thống nhất với nhau sẽ thuê 01 phòng hát, 05 nữ nhân viên và mua 01 chỉ ma túy ketamine, 03 viên ma túy kẹo để cùng nhau sử dụng. K, T4, Đ sinh năm 1998 là người ứng tiền trước, sau đó hết bao nhiêu thì sẽ chia đều cho 06 người gồm: T4, K, T, Đ sinh năm 1998, Đ sinh năm 2002 và H1, trong đó K là người đứng ra thu tiền của mọi người và thanh toán tiền, T là người đứng ra liên hệ đặt phòng, gọi nhân viên và mua ma túy.

Một lúc sau, Đ sinh năm 2002 đi xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave màu trắng đã cũ gắn BKS: 88F1-555.44 đến khu vực cây xăng Đ1 rồi gửi xe và cùng các đối tượng lên xe taxi của anh Phùng Văn L đi đến quán K4. Trên đường đi, T4 sử dụng số tài khoản 105873104719 ngân hàng V1 của mình chuyển vào số tài khoản 109873024067 ngân hàng V1 của K số tiền 2.400.000₫ để góp tiền mua ma túy, tiền hát, tiền thuê nhân viên. Quá trình đi đến quán, T tiếp tục liên hệ với P qua ứng dụng Messenger để báo cho P biết việc T cùng nhóm bạn đang đi đến quán và nhờ P mua 01 chỉ ma túy ketamine và 03 viên ma túy kẹo, P đồng ý. Do thấy T3 đang đứng dưới sân của quán K4 86, P đi xuống gặp T3 nói: “Khách lấy 01 chỉ 03 viên, anh cho khách chơi nhé”, do đang có sẵn 01 chỉ ma túy ketamine và 03 viên ma túy kẹo cất giấu tại nhà nên T3 này sinh ý định bán số ma túy đó để kiếm lời nên nói: “Ừ”. Sau đó, P nhắn tin lại thông báo cho T biết là đã nhờ được chủ quán liên hệ lấy hộ ma túy và được chủ quán đồng ý cho hát, sử dụng ma túy tại phòng hát của quán, đến nơi thì cứ gặp chủ quán để liên hệ.

Khoảng 21 giờ 20 phút cùng ngày, các đối tượng đi xe taxi đến quán K4 thì T4, K, Đ - 1998, T, H1 đi vào quán trước để lấy phòng, còn Đ - 2002 ở lại trả 200.000đ tiền taxi cho anh L (Các đối tượng thống nhất, số tiền này sẽ gộp vào tiền mua ma túy, tiền hát, tiền thuê nhân viên và chia đều cho 06 người trả) rồi đi vào sau. Tại quán, Đ-1998 sử dụng số tài khoản 108002921936 ngân hàng V1 của mình, chuyển cho K số tiền 2.000.000đ vào tài khoản của K để góp tiền mua ma túy, tiền hát, tiền thuê nhân viên. Do là người cầm tiền nên K một mình đi đến gặp T3 đang đứng ở quầy lễ tân hỏi: “Của em hết bao tiền”, ý của K muốn thanh toán trước tiền hát, tiền nhân viên và tiền mua ma túy, thì T3 trả lời “Tiền kẹo một triệu hai, ke hết hai triệu, em chuyển bao nhiêu thì chuyển” và chỉ vào bảng mã QR code ngân hàng M1 số tài khoản 0972264814 của Nguyễn Thị H2 - SN 1988 (là vợ của T3) đang được đặt ở quầy lễ tân. K hiểu ý và chủ động chuyển số tiền 7.000.000đ vào tài khoản nêu trên. Sau khi xác nhận K đã chuyển khoản thành công số tiền trên thì T3 nói: “Cứ đi lên trước đi” rồi hướng dẫn các đối tượng lên phòng hát tại tầng 02 tiếp giáp cầu thang phía bên trái từ dưới lên. Sau đó, T3 nhắn tin lên nhóm Z của nhân viên nữ và bảo bảo Đặng Thị V; Đỗ Thị Bích D (tên thường gọi ở quán là N1), Đặng Mùi K1, sinh năm 1997 (tên thường gọi ở quán là H3), trú tại xã P, huyện V, tỉnh Yên Bái và Phạm Thị P lên phòng để phục vụ khách hát.

Sau khi thấy T3 thông báo, V từ phòng nghỉ của nhân viên đi đến phòng hát phục vụ khách. Khi đi qua khu vực quầy lễ tân thì P bào V cầm đĩa sứ lên phòng hát cho khách. Hiểu ý P là cầm đĩa lên để cho khách có dụng cụ xào, chia ma tuý nên V đi đến quầy và cầm theo 01 chiếc đĩa sứ tròn màu trắng để sẵn ở đó từ trước đem lên phòng hát. Khi P đi đến quầy lễ tân lấy giấy ăn mang lên phòng hát thì T3 lấy ra 01 túi ma túy ketamine và 03 viên ma túy kẹo màu xanh, gói vào 01 tờ giấy ăn đưa cho P nói: “Sáu người mà có một chỉ ba viên thôi à”, ý của T3 muốn hỏi tại sao khách đi với số lượng người đông mà mua ít ma túy và bảo P đem lên cho khách, P cầm ma túy T3 đưa ở tay phải và nói: “Anh đi mà hỏi khách” rồi đi lên phòng hát. D và K1 cũng đi lên phòng hát.

Sau khi vào phòng, V để chiếc đĩa sứ ở mặt bàn trong phòng gần cửa ra vào để cho ai có nhu cầu xào, sử dụng ma túy ketamine thì sẽ lấy. Tại đây, P đưa gói giấy ăn có chứa ma túy cho T, T mở ra xem và nói: “Kẹo màu xanh à”, P không trả lời rồi đi hát cùng mọi người. Sau khi nhận ma tuý từ P, T để túi ma túy ketamine ở trên bàn, lấy 01 viên ma túy kẹo bỏ vào trong 01 cốc nhựa rồi dùng phần nắp chai nước ngọt dạng chai nhựa kiểu dáng giống chai nước tăng lực 247 giã nhỏ, vụn ma túy kẹo ở cốc đó rồi đổ nước C-C vào cốc đó để pha với ma túy kẹo rồi sử dụng bằng hình thức uống vào cơ thể. Sau khi sử dụng xong, T đưa cho H1 để H1 và những người khác sử dụng. Tiếp đó, Đ - SN 1998 pha 02 viên ma túy kẹo còn lại với nước Côca-Côla tương tượng như T rồi bản thân sử dụng và đưa cho những người khác sử dụng cùng, trong đó Đ sinh năm 1998 là người đưa cốc nước C-Cola chứa ma túy kẹo cho K1 và ra hiệu bảo K1 uống. Sau khi các đối tượng đã sử dụng ma túy kẹo xong, nghe thấy có người nói là cuốn ống hút để sử dụng ma túy ketamine nên D đi đến chỗ K và hỏi xin K 01 tờ tiền để cuốn ống hút. K hiểu ý và lấy ra tờ tiền polime mệnh giá 50.000₫ đưa cho D. D cầm cuốn thành ống hút rồi lấy 05 vỏ đầu lọc của điếu thuốc lá cố định chiếc ống hút lại rồi đặt lên mặt bàn trong phòng hát. Tiếp đó, có người trong phòng đưa cho P chiếc đĩa sứ tròn màu trắng (do V đem vào phòng trước đó) và bảo P đi đốt đĩa để phục vụ việc xào, sử dụng ma túy. Do không muốn đi đốt đĩa nên P nói lại: “Hôm nay em mệt, ai đi đốt thì đốt” rồi cầm lấy chiếc đĩa đó đưa lại cho D, D hiểu ý nên cầm chiếc đĩa P đưa và giấy ăn, chiếc bật lửa màu tím (có sẵn trong phòng) đi ra khỏi phòng dùng bật lửa đốt giấy hơ nóng đáy đĩa rồi đem vào phòng để trên mặt bàn. P lấy túi ma túy ketamine đó ra đĩa rồi dùng 01 chiếc thẻ nhựa màu trắng có sẵn trên bàn trong phòng hát xào ma túy ketamine trên đĩa. Trong lúc P xào ma túy ketamine thì T4 đứng cạnh sử dụng chiếc điện thoại nhãn hiệu Apple loại Iphone 15 Pro Max của T4 bật đèn flash soi cho P nhìn rõ để xào. Sau khi xào, chia ma túy ketamine thành các đường nhỏ, P nói: “Chị kê đủ tất cả mọi người” và vẫy tay, ra hiệu cho các đối tượng đến sử dụng ma túy ketamine. Các đối tượng hiểu ý nên đều đi đến để sử dụng ma túy ketamine, T4 lúc này vẫn đứng đó sử dụng điện thoại của T4 soi đèn flash cho mọi người sử dụng ma túy. Một lúc sau, Bàn Thu H4, trú tại xã L, huyện V, tỉnh Yên Bái đi vào phòng (trước đó khi H4 đang dọn quán hát thì được T3 phân công lên phục vụ để cho đủ 05 nhân viên). Do lúc này các đối tượng đã sử dụng hết ma túy nên H4 không có ma túy để sử dụng và chỉ nháy, uống bia cùng mọi người. Khoảng 23 giờ cùng ngày, do chuẩn bị ra về nên T bảo H4 ra khỏi phòng nên H4 đi về phòng nghỉ của nhân viên, T sau đó cũng về trước. Thấy khách chuẩn bị nghỉ nên K1, V, D cũng đi ra khỏi phòng để về nghỉ.

Khoảng 23 giờ 05 phút cùng ngày, lực lượng Công an huyện V đến kiểm tra. Do lo sợ hành vi vi phạm của bản thân bị phát hiện nên T3 chạy lên phòng hát trên thông báo cho các đối tượng và cầm đĩa sứ, thẻ nhựa trên bàn ném ra khu vực sau quán; Đ - 1998 đi vệ sinh xong nhìn từ trên tầng 02 xuống thấy có lực lượng Công an chuẩn bị đi lên tầng thì chạy lên tầng 03 của quán để trốn, Đ - 2002 ở trong phòng thấy vậy cũng chạy lên tầng 03. Trong phòng lúc này còn lại K, T4, H1, P. Sau đó, lực lượng Công an đã đưa Đ - SN 1998, Đ - SN 2002 quay trở lại phòng hát trên, lập biên bản sự việc. Đỗ Thị Bích D và Đặng Thị V lo sợ hành vi của bản thân bị xử lý nên bỏ trốn đến ngày 01/7/2024 và 02/7/2024, lần lượt Đặng Thị V, Đỗ Thị Bích D ra trình diện làm việc với Cơ quan điều tra.

* Vật chứng thu giữ:

- Thu trên mặt bàn phía bên trong từ cửa vào 01 chiếc ống hút được cuốn bằng tờ tiền polime mệnh giá 50.000đ được giữ cố định bằng 05 vỏ đầu lọc của điếu thuốc lá, mặt trong của ống hút có bám dính các hạt tinh thể màu trắng (niêm phong ký hiệu A1) và 02 bật lửa gas màu tím đã cũ;

- Thu trên sàn nhà (gầm bàn để ống hút nêu trên) 01 vỏ túi nilon không màu có mép vuốt bên trong có bám dính các hạt tinh thể màu trắng (niêm phong ký hiệu A2);

- Tạm giữ của K 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 13 Pro Max màu xanh đã cũ bên trong lắp sim thuê bao 0338.873.538; của H1 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO loại CPH 1825 màu tím đã cũ bên trong lắp sim thuê bao 0367.081.904; của Đ-1998 01 điện thoại di động nhãn hiệu Remi loại K20 Pro màu đỏ đen đã cũ bên trong lắp 02 sim thuê bao 0974.718.944 và 0356.128.628; của Đ-2002 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 11 màu tím đã cũ bên trong lắp sim thuê bao 0387.828.734; của T4 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 15 Pro Max màu xám đã cũ bên trong lắp sim thuê bao 0375.796.002; của P 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 12 Pro Max màu vàng đã cũ bên trong lắp sim thuê bao 0339.917.321.

- Tạm giữ tại cây xăng xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Sirius màu đen đã cũ gắn BKS: 88S6-2132 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave màu trắng gắn BKS: 88F1-555.44 của Nguyễn Văn Đ-SN 2002 và Nguyên Đăng K2.

- Ngày 24/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V phối hợp cùng Trạm y tế thị trấn V thu mẫu nước tiểu của các đối tượng liên quan để phục vụ giám định chất ma túy theo quy định.

Căn cứ lời khai của các đối tượng, Cơ quan điều tra tiến hành làm việc với Nguyễn Văn T3. Quá trình làm việc, T3 thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân và giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung loại Galaxy M54 5G màu trắng đã cũ bên trong lắp sim thuê bao 0914.806.860 để phục vụ điều tra. Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở, đồ vật của Nguyễn Văn T3 nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

- Ngày 28/5/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện V triệu tập Nguyễn Văn T đến làm việc. Cơ quan điều tra đã phối hợp cùng Trạm y tế thị trấn V đã tiến hành thu mẫu nước tiểu của Nguyễn Văn T để phục vụ việc giám định ma tuý.

- Ngày 30/5/2024, Cơ quan điều tra tạm giữ số tiền 7.000.000₫ do Nguyễn Thị H2 (là vợ của Nguyễn Văn T3) tự nguyện giao nộp.

* Kết quả kiểm tra, giám định ma tuý:

Ngày 24/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V phối hợp cùng Trạm y tế thị trấn V test nhanh chất ma tuý trong nước tiểu đối với các đối tượng, kết quả: Khoa, H1, Đ-SN 1998, Đ-SN 2002, T4, P, K1 và H2 đều dương tính với ma túy K3 và MDMA.

Ngày 24/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V ra Quyết định trưng cầu số 996 giám định đối với mẫu vật ký hiệu A1, A2 thu giữ được gửi đến Phòng K5 - Công an tỉnh V để giám định xác định mẫu vật gửi giám định có bám dính chất ma túy không, nếu có thì là loại ma túy gì, khối lượng của chất ma túy bám dính là bao nhiêu?

Ngày 28/5/2024, Phòng K5 - Công an tỉnh V có bản kết luận giám định số 1511, xác định:

Chất bám dính màu trắng trên các mẫu ký hiệu A1, A2 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine. Không xác định được khối lượng chất ma túy bám dính trên A1 và A2 do tồn tại ở dạng vết.

Ketamine là chất ma túy nằm trong Danh mục III, STT 40 Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định còn lại sau giám định cho cơ quan trưng cầu gồm: A1 gồm 01 tờ polyme mệnh giá 50.000₫ và 05 vỏ đầu lọc thuộc lá màu vàng; A2: 01 túi nilon không màu có viền màu đỏ sau giám định cùng toàn bộ bao gói được niêm phong theo quy định.

Ngày 24/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V ra các Quyết định số 995, 997, 998, 999, 1000, 1001, 1002, 1003, trưng cầu giám định Phòng K5 - Công an tỉnh V để giám định xác định trong mẫu nước tiểu của các đối tượng có chất ma túy không, nếu có thì là loại ma túy gì?

Ngày 31/5/2024, Phòng K5 - Công an tỉnh V có Bản kết luận giám định số 1541, xác định:

Tìm thấy các chất ma túy MDMA và Ketamine trong mẫu nước tiểu thu của Đặng Mùi K1, SN: 1997, trú tại: Xã X, huyện V, tỉnh Yên Bái ký hiệu M7 gửi giám định.

H5 lại đối tượng giám định: Không.

Ngày 01/6/2024, Phòng K5 - Công an tỉnh V có các Bản kết luận giám định số 1546, 1547, 1549, 1548, 1551, 1550, 1545 xác định:

Tìm thấy chất ma túy MDMA và Ketamine trong mẫu chất lỏng màu vàng được Cơ quan trưng cầu xác định là mẫu nước tiểu thu của Nguyễn Đăng K, SN: 2002 ở xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc ký hiệu M1 gửi giám định.

Tìm thấy chất ma túy MDMA và Ketamine trong mẫu chất lỏng màu vàng được Cơ quan trưng cầu xác định là mẫu nước tiểu thu của Nguyễn Văn H1, SN: 1999 ở xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc ký hiệu M2 gửi giám định.

Tìm thấy chất ma túy MDMA và Ketamine trong mẫu chất lỏng màu vàng được Cơ quan trưng cầu xác định là mẫu nước tiểu thu của Nguyễn Văn Đ, SN: 1998 ở xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc ký hiệu M3 gửi giám định.

Tìm thấy chất ma túy MDMA và Ketamine trong mẫu chất lỏng màu vàng được Cơ quan trưng cầu xác định là mẫu nước tiểu thu của Nguyễn Văn Đ, SN: 2002 ở xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc ký hiệu M4 gửi giám định.

Tìm thấy các chất ma túy MDMA và Ketamine trong mẫu nước tiểu thu của Nguyễn Anh T4, SN: 2002 ở xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc ký hiệu M5 gửi giám định.

Tìm thấy các chất ma túy MDMA và Ketamine trong mẫu nước tiểu thu của Phạm Thị P, SN: 1990 ở xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái ký hiệu M6 gửi giám định.

Tìm thấy chất ma túy MDMA và Ketamine trong mẫu chất lỏng màu vàng được Cơ quan trưng cầu xác định là mẫu nước tiểu thu của Bàn Thị H6, SN: 2008 ở xã L, huyện V, tỉnh Yên Bái ký hiệu M8 gửi giám định.

MDMA là chất ma túy nằm trong Danh mục I, mục 1B STT 11 Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Ketamine là chất ma túy nằm trong Danh mục III, STT 40 Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định còn lại sau giám định cho cơ quan trưng cầu gồm 0,0ml mẫu và toàn bộ bao gói được niêm phong.

Cơ quan điều tra đã thông báo các kết luận giám định cho các bị can. Các bị can và những người liên quan trong vụ án đều hoàn toàn nhất trí với nội dung kết quả trưng cầu giám định, không có ý kiến thắc mắc gì.

Ngày 28/5/2024, Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu số 1029 gửi Phòng K5 - Công an tỉnh V để giám định xác định xem trong mẫu nước tiểu của Nguyễn Văn T có chất ma túy không, nếu có thì là loại ma túy gì?

Ngày 05/6/2024, Phòng K5 - Công an tỉnh V có Bản kết luận giám định số 1601, xác định:

Tìm thấy chất ma túy Ketamine trong mẫu chất lỏng màu vàng được Cơ quan trưng cầu xác định là mẫu nước tiểu thu của Nguyễn Văn T, SN: 1999, trú tại: Xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc ký hiệu M9 gửi giám định.

* Giám định kỹ thuật số điện tử:

Ngày 05/9/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã ra Quyết định trưng cầu giám định gửi Phòng K5 - Công an tỉnh V để khôi phục, trích xuất dữ liệu trong ngày 23/5/2024 đối với 06 chiếc điện thoại di động thu giữ của các bị cáo.

Ngày 23/10/2024, Phòng K5 - Công an tỉnh V có các Bản kết luận giám định số 3019, 3020, 3021, 3022, 3023, 3024, kết quả thu được:

Trong điện thoại của Nguyễn Anh T4 thấy:

- Điện thoại di động: Tìm thấy 32 (ba mươi hai) cuộc gọi, 138 (một trăm ba mươi tám) tin nhắn trong ứng dụng Messenger; không tìm thấy dữ liệu trong tin nhắn ứng dụng Zalo; Chụp được 03 (ba) ảnh màn hình thể hiện thông báo về biến động số dư hiển thị trong ứng dụng V2.

Trong điện thoại của Nguyễn Văn Đ SN 1998 thấy:

- Điện thoại di động: Tìm thấy 13 (mười ba) cuộc gọi, 343 (ba trăm bốn mươi ba) tin nhắn trong ứng dụng Messenger; 96 (chín mươi sáu) tin nhắn trong ứng dụng Zalo; Chụp được 02 (hai) ảnh màn hình thể hiện thông báo về biến động số dư hiển thị trong ứng dụng V2.

Trong điện thoại của Nguyễn Văn Đ SN 2002 thấy:

- Điện thoại di động: Tìm thấy 46 (bốn mươi sáu) cuộc gọi, 58 (năm mươi tám) tin nhắn trong ứng dụng Zalo; không tìm thấy dữ liệu tin nhắn trong ứng dụng Messenger; Chụp được 02 (hai) ảnh màn hình thể hiện thông báo về biến động số dư hiển thị trong ứng dụng V2.

Trong điện thoại của Nguyễn Đăng K thấy:

- Điện thoại di động: Tìm thấy 39 (ba mươi chín) cuộc gọi, 88 (tám mươi tám) tin nhắn trong ứng dụng Messenger; 92 (chín mươi hai) tin nhắn trong ứng dụng Zalo; Chụp được 07 (bảy) ảnh màn hình thể hiện thông báo về biến động số dư hiển thị trong ứng dụng V2.

Trong điện thoại của Phạm Thị P thấy:

- Điện thoại di động: Tìm thấy 39 (ba mươi chín) cuộc gọi, 31 (ba mươi mốt) tin nhắn trong ứng dụng Messenger; 171 (một trăm bảy mốt) tin nhắn trong ứng dụng Zalo.

Trong điện thoại của Nguyễn Văn T3 thấy:

- Điện thoại di động: Tìm thấy 39 (ba mươi chín) cuộc gọi, 56 (năm mươi sáu) tin nhắn trong ứng dụng Zalo.

Qua nghiên cứu nội dung các tin nhắn khôi phục, trích xuất được và ảnh chụp dữ liệu tại các phụ lục kèm theo các kết luận giám định thấy hoàn toàn phù hợp với nội dung thỏa thuận, thống nhất về việc mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của các bị can.

Cơ quan điều tra đã ra Thông báo các bản kết luận giám định nêu trên cho các bị can và những người có liên quan trong vụ án; các bị can và những người có liên quan đều hoàn toàn nhất trí với nội dung kết luận giám định, không có ý kiến thắc mắc gì.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 31/2025/HS-ST ngày 09 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định:

- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T3 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Các bị cáo Nguyễn Đăng K, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Văn Đ sinh năm 1998, Nguyễn Văn Đ sinh năm 2002, Nguyễn Anh T4, Phạm Thị P, Đỗ Thị Bích D, Nguyễn Văn T, Đặng Thị V phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 38; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 07 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 26/8/2024).

- Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định xử phạt đối với các bị cáo khác; quyết định xử lý vật chứng, tài sản bị tạm giữ, án phí, quyền kháng cáo của các bị cáo.

Ngày 15/4/2025 bị cáo Nguyễn Văn T có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc phát biểu quan điểm:

- Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 31/2025/HS-ST ngày 09 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 07 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 26/8/2024) về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên không đề nghị xem xét.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T trình bày quan điểm bào chữa:

Bị cáo T tuổi đời còn trẻ, bồng bột, khong lường trước được hậu quả của việc vi phạm pháp luật. Trước khi phạm tội có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Hoàn cảnh gia đình của bị cáo rất khó khăn, mẹ bị bệnh thường xuyên phải đi chữa trị tại bệnh viện, vợ của bị cáo đang nuôi con nhỏ, không có công ăn việc làm, T là lao động chính duy nhất trong gia đình. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân, cụ ngoại T là cụ Kim Văn C1 được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng Ba. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T làm trong thời hạn luật định nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Qua xét hỏi và tranh luận công khai tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung của bản án sơ thẩm. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 25 phút ngày 23/5/2024, tại quán K4 thuộc thôn H, xã K, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, Nguyễn Văn T3 là chủ quán đồng ý cho Nguyễn Đăng K, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Văn Đ sinh năm 1998, Nguyễn Văn Đ sinh năm 2002, Nguyễn Anh T4 thuê phòng hát cùng với Phạm Thị P, Đặng Thị V, Đỗ Thị Bích D (là những nữ nhân viên phục vụ quán hát) tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy MDMA và Ketamine cho bản thân các bị cáo và Đặng Mùi K1.

Về nguồn gốc ma tuý các đối tượng tổ chức sử dụng do Nguyễn Văn T3 bán cho Nguyễn Đăng K 01 chỉ ma túy Ketamine với giá 2.000.000₫ và 03 viên ma tuý MDMA với giá 1.200.000₫.

Đến khoảng 23 giờ 05 phút cùng ngày, tổ công tác Công an huyện V kiểm tra phát hiện tại phòng hát tầng 2 của quán K4 86 các đối tượng có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Vật chứng thu giữ: 01 ống hút được cuốn bằng tờ tiền 50.000 đồng bám dính ma tuý Ketamine, 01 túi nilon bám dính ma túy ketamine, 02 bật lửa gas màu tím đã qua sử dụng, 07 điện thoại di động các loại bên trong có sim thuê bao; xe mô tô BKS 88S6-2132 và 88F1-555.44; số tiền 7.000.000 đồng.

Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, không oan sai.

[3] Xét kháng cáo về việc xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn T thì thấy:

Trong vụ án này, T sẽ là người liên hệ đặt phòng, mua tuý để sử dụng. Khoảng 20 giờ 35 phút 23/5/2024, T sử dụng tài khoản Messenger của mình nhắn tin đến tài khoản M “Hà Phương” của Phạm Thị P (là nữ nhân viên của quán K4) để nhờ P đặt hộ 01 phòng hát tại quán K4 86, 05 nữ nhân viên phục vụ và mua hộ 03 viên ma tuý kẹo, 01 chỉ Ketamine để khi các đối tượng đến sẵn có sử dụng. Nguyễn Văn T là người góp tiền mua ma túy, trực tiếp giã nhỏ ma tuý MDMA để các đối tượng sử dụng tại phòng hát, bản thân bị cáo cũng sử dụng ma túy. Như vậy, bị cáo phạm tội rất tích cực so với các đồng phạm.

Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo là có cơ sở. Nguyễn Văn T là lao động chính duy nhất trong gia đình, vợ nuôi con nhỏ không có công ăn việc làm, mẹ bị bệnh hiểm nghèo, cụ ngoại T là cụ Kim Văn C1 được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng Ba nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Trong vụ án này, T sẽ là người liên hệ đặt phòng, mua tuý để sử dụng. Khoảng 20 giờ 35 phút 23/5/2024, T sử dụng tài khoản Messenger của mình nhắn tin đến tài khoản M “Hà Phương” của Phạm Thị P (là nữ nhân viên của quán K4) để nhờ P đặt hộ 01 phòng hát tại quán K4 86, 05 nữ nhân viên phục vụ và mua hộ 03 viên ma tuý kẹo, 01 chỉ Ketamine để khi các đối tượng đến sẵn có sử dụng. Nguyễn Văn T là người đồng thuận bàn bạc góp tiền mua ma túy, trực tiếp giã nhỏ ma tuý MDMA để các đối tượng sử dụng tại phòng hát, bản thân bị cáo cũng sử dụng ma túy. Như vậy, bị cáo phạm tội rất tích cực so với các đồng phạm. Bản án sơ thẩm đã xem xét đánh giá đúng hành vi, vai trò đồng phạm của bị cáo với các bị cáo khác. Tại cấp phúc thẩm bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới. Không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[4] Quan điểm đề xuất của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp pháp luật, phù hợp tính chất mức độ tội phạm cần chấp nhận.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[6] Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng của của bị cáo Nguyễn Văn T. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 31/2025/HS-ST ngày 09 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.

2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 26/8/2024.

3. Về án phí phúc thẩm: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - TAND huyện Vĩnh Tường;
  • - VKSND huyện Vĩnh Tường;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Phòng Hồ sơ Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Chi cục THADS huyện Vĩnh Tường;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ, HСТР.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Vĩnh Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 77/2025/HS-PT ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự phúc thẩm (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 77/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo T phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger