|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 77/2025/HNGĐ-ST Ngày: 29/5/2025 V/v “ Tranh chấp ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Trúc Mai
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Văn Minh
- Ông Phùng Văn Long
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Vinh - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Song - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 109/2025/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 03 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 51/2025/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thị H, sinh năm 1983;
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Bị đơn: Nguyễn Thanh L, sinh năm 1978;
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
(có mặt chị H, vắng mặt anh L)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện, bản tường trình cùng ngày 01/12/2024 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:
Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Thanh L tự tìm hiểu và kết hôn với nhau vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Anh chị sống hạnh phúc với nhau đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, không hợp tính, thường xuyên cãi nhau. Anh chị ly thân từ đó cho đến nay.
Nay nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị các vấn đề sau:
- Về hôn nhân: Chị H xin được ly hôn với anh L.
- Về con chung: Có 03 con chung tên Nguyễn Thị Bích H1, sinh ngày 18/02/1999; Nguyễn Hoàng N, sinh ngày 13/11/2004; Nguyễn Thị Tuyết N1, sinh ngày 03/9/2006. Hiện các con chung đã trưởng thành, tự lao động và lo cho bản thân được nên khi ly hôn chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Chị H trình bày tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
- Về nợ chung: Chị H trình bày không có, không yêu cầu giải quyết.
* Bị đơn Nguyễn Thanh L vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, mặc dù anh đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập tham dự các phiên hòa giải và công khai chứng cứ, tham dự phiên tòa sơ thẩm, thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ. Anh L cũng không nộp cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến đối với các yêu cầu khởi kiện của chị H.
Tại phiên toà hôm nay
- Chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với anh L và xác định lại tài sản chung là không có.
- Anh L vẫn vắng mặt không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang trình bày ý kiến:
- + Về phần thủ tục, kể từ thời điểm thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã chấp hành và tuân thủ đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự.
- Bị đơn đã không chấp hành và không tuân thủ đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự.
- + Về việc giải quyết vụ án, trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật, đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Trên cơ sở yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, căn cứ vào Khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định vụ án có quan hệ tranh chấp “Ly hôn”.
[2] Về tố tụng: Bị đơn Nguyễn Thanh L nhiều lần vắng mặt tại phiên toà, mặc dù đã được Toà án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt anh L.
[3] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Thanh L xác lập quan hệ hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang, theo giấy chứng nhận kết hôn số 104, quyển số 01/2011, ngày 11/7/2011.
Tại phiên toà hôm nay, chị H trình bày nguyên nhân chính chị xin ly hôn với anh L là vì từ khi anh L cưới chị và chị về làm dâu, sống cùng nhà cha mẹ chồng vào năm 1999 thì anh L thường xuyên say xỉn, vô cớ kiếm chuyện, chửi đánh chị, có lần dùng dao chém trúng đầu chị gây chảy máu; nhưng vì gia đình, vì mẹ chồng, chị cố gắng chịu đựng, không báo công an xử lý anh L. Sự việc như thế này cứ lập đi lập lại với thời gian dài, trên 20 năm, đến năm 2019, do không thể chịu đựng được nữa nên chị cùng hai con rời nhà, thuê trọ sinh sống và làm việc đến nay. Thời gian ở trọ, anh L tìm đến nơi trọ và nơi buôn bán của chị quậy phá, chửi bới chị. Chị và anh L ly thân từ năm 2019 đến nay. Tại phiên tòa, chị vẫn quyết tâm xin được ly hôn với anh L.
Đối với anh L, nhiều lần được Toà án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham dự phiên toà, nhưng anh đều vắng mặt không có lý do, anh cũng không có văn bản phản hồi đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Từ đó cho thấy anh L không có thiện chí hàn gắn tình cảm với chị H.
Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh L như lời chị H trình bày là hoàn toàn phù hợp với nội dung biên bản xác minh ngày 19/3/2025 (bút lục số 22).
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử căn cứ vào Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, xét yêu cầu xin ly hôn anh L của chị H là có cơ sở, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về con chung: Có 03 con chung tên Nguyễn Thị Bích H1, sinh ngày 18/02/1999; Nguyễn Hoàng N, sinh ngày 13/11/2004; Nguyễn Thị Tuyết N1, sinh ngày 03/9/2006. Hiện tại các con chung đã trưởng thành, lao động tự lo cho bản thân được nên khi ly hôn chị không yêu cầu giải quyết vấn đề con chung.
[5] Về tài sản chung: Chị H trình bày không có, anh L cũng không có bất kỳ văn bản phản hồi nào đối với vấn đề tài sản chung, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét trong vụ án này. Nếu sau này, anh chị có tranh chấp về tài sản chung thì có quyền khởi kiện bằng vụ kiện khác.
[6] Về nợ chung: Chị H trình bày không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[7] Xét đề nghị của vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang là hoàn toàn phù hợp với phân tích nêu trên của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận toàn bộ.
[8] Về án phí: Chị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Áp dụng Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Áp dụng điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị H đối với bị đơn Nguyễn Thanh L.
- - Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Thanh L.
- - Về con chung: Không đặt ra xem xét.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét.
- Về án phí:
Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, cấn trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0012530 ngày 03/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Như vậy, chị H đã thực hiện xong nghĩa vụ án phí.
- Về quyền kháng cáo:
Chị Nguyễn Thị H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Anh Nguyễn Thanh L được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA HUỲNH THỊ TRÚC MAI |
Bản án số 77/2025/HNGĐ-ST ngày 29/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 77/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn giữa Nguyễn Thị H và Nguyễn Thanh L
