|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HẢI PHÒNG Bản án số: 77/2025/HNGĐ-ST Ngày 19-11-2025 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh Phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Khanh
Bà Nguyễn Thị Tám
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Ly Ly - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 7- Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 7- Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 05/2025/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2025 về ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 52/2025/QĐST- HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Lê Thị C; nơi cư trú: Đường A, thôn N, xã V, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Thôn V, xã V, thành phố Hải Phòng: có mặt
- - Bị đơn: Anh Đoàn Xuân Đ: nơi cư trú: Đường A, thôn N, xã V, thành phố Hải Phòng: vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Lê Thị C trình bày: Chị và anh Đoàn Xuân Đ kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 09-5-2012 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng, nay là xã V, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống anh chị thỏa thuận được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng không hợp tính nhau, luôn bất đồng quan điểm nên đã xảy ra bất hòa. Năm 2020 chị đã làm đơn ly hôn anh Đ sau đó chị đã rút đơn do mâu thuẫn vợ chồng tuy nhiên mâu thuẫn vẫn phát sinh do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Do mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng nên chị đã đưa con chung về gia đình chị ở thôn V, xã V, thành phố Hải Phòng sinh sống. Từ tháng 6/2025 đến nay anh chị sống ly thân, mỗi người ở một nơi, không quan tâm đến nhau, đối xử với nhau lạnh nhạt. Nay nhận thấy tình nghĩa vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể hàn gắn được, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Đ.
Về con chung: Chị và anh Đoàn Xuân Đ có hai con chung là Đoàn Ngọc Á, sinh ngày 10-11-2012 và Đoàn Ngọc Đ, sinh ngày 21-5-2020. Khi ly hôn, chị đề nghị Tòa án giao cả hai con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con chị xin tự giải quyết với anh Đ.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, anh Đoàn Xuân Đ xác nhận về điều kiện hoàn cảnh kết hôn như chị Lê Thị C trình bày là đúng. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị có xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm chị C đã làm đơn ly hôn anh và được Tòa án hòa giải, chị đã rút đơn về. Tuy nhiên mâu thuẫn vẫn phát sinh nên chị C đã đưa con chung về gia đình chị ở thôn V, xã V, thành phố H sinh sống. Vợ chồng anh chị sống ly thân, mỗi người ở một nơi, anh đã tìm chị C nhiều lần nhưng chị không trở về đoàn tụ. Nay chị C xin ly hôn anh không đồng ý.
Về con chung: Anh và chị Lê Thị C có hai con chung là Đoàn Ngọc Á, sinh ngày 10-11-2012 và Đoàn Ngọc Đ, sinh ngày 21-5-2020. Khi ly hôn, anh đề nghị Tòa án giao cả hai con chung cho anh hoặc chị C trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con anh xin tự giải quyết với chị C.
Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kiểm sát viên phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng đồng thời phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về: Thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách của những người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ. Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, bị đơn không chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo pháp luật, tại phiên tòa bị đơn vắng mặt không có lý do, tuy nhiên vi phạm của bị đơn không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.
Về nội dung vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình: Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị C được ly hôn anh Đoàn Xuân Đ. Về con chung: Giao hai con chung là Đoàn Ngọc Á, sinh ngày 10-11-2012 và Đoàn Ngọc Đ, sinh ngày 21-5-2020 cho chị C trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật, việc cấp dưỡng nuôi con anh chị tự giải quyết nên không xem xét giải quyết. Về tài sản chung: Chị Lê Thị C và anh Đoàn Xuân Đ không yêu cầu nên không xét giải quyết. Về án phí: Chị C phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
I. Về tố tụng:
[1] Anh Đoàn Xuân Đ hiện nay cư trú tại Đường A, thôn N, xã V, thành phố Hải Phòng. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án ly hôn giữa chị Lê Thị C và anh Đoàn Xuân Đ thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 7- Hải Phòng.
[2] Anh Đoàn Xuân Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa, tuy nhiên anh Đ vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Đoàn Xuân Đ.
II. Về nội dung vụ án:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị C và anh Đoàn Xuân Đ kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, nay là xã V, thành phố Hải Phòng vào ngày 09-5-2012, là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, anh chị có thỏa thuận thời gian đầu và có 02 con chung, mâu thuẫn vợ chồng phát sinh do bất đồng quan điểm, tính cách không hòa hợp nên đã xảy ra bất hòa. Nay ly hôn chị C xác định tình nghĩa vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể hàn gắn được, chị đề nghị được ly hôn anh Đ. Quá trình giải quyết vụ án, anh Đ không đồng ý ly hôn. Qua xác minh thì thấy, vợ chồng chị C và anh Đ có mâu thuẫn, anh chị sống ly thân, mỗi người ở một nơi, không quan tâm đến nhau. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn đã ở mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Yêu cầu của chị Lê Thị C xin ly hôn anh Đoàn Đ phù hợp với khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình được chấp nhận.
[4] Về con chung: Chị Lê Thị C và anh Đoàn Xuân Đ có 02 con chung là Đoàn Ngọc Á, sinh ngày 10-11-2012 và Đoàn Ngọc Đ, sinh ngày 21-5-2020. Khi ly hôn, chị C đề nghị Tòa án giao cả hai con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, anh Đ đề nghị Tòa án giao cả hai con chung cho anh hoặc chị C trực tiếp nuôi dưỡng. Xét yêu cầu đề nghị nuôi con của anh chị, Hội đồng xét xử nhận định: Chị C có nơi ở và thu nhập ổn định đủ điều kiện để nuôi con, cháu Đoàn Ngọc Á, sinh ngày 10-11-2012 có nguyện vọng xin ở với mẹ, cháu Đoàn Ngọc Đ, sinh ngày 21-5-2020 còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, cần chấp nhận yêu cầu của chị C, giao cả hai con chung cho chị C trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Việc cấp dưỡng nuôi con chị C và anh Đ xin tự giải quyết nên không xem xét giải quyết.
[5] Về tài sản chung: Chị Lê Thị C và anh Đoàn Xuân Đ không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
[6] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Lê Thị C phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm.
[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị C được ly hôn anh Đoàn Xuân Đ.
- Về con chung: Giao hai con chung là Đoàn Ngọc Á, sinh ngày 10-11-2012 và Đoàn Ngọc Đ, sinh ngày 21-5-2020 cho chị Lê Thị C trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con chị Lê Thị C và anh Đoàn Xuân Đ tự giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung: Chị Lê Thị C và anh Đoàn Xuân Đ không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Lê Thị C phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chị C đã nộp tạm ứng 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001960 ngày 23-7-2025. Chị Lê Thị C đã nộp đủ án phí.
Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thương Huyền |
Bản án số 77/2025/HNGĐ-ST ngày 19/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 77/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn tranh chấp nuôi con giữa chị Lê Thị C và anh Đoàn Xuân Đ
