|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 77/2025/HNGĐ-ST Ngày: 18 - 6 - 2025 V/v ly hôn giữa chị T và anh L |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Dương
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Đức Chạc
- Bà Dương Thị Vui
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thu Hiền - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 47/2025/TLST- HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2025 về việc ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 20/2025/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Chị Bùi Thị T, sinh năm 1975;
- Địa chỉ: Xóm D, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định
- * Bị đơn: Anh Trần Văn L, sinh năm 1982;
- Địa chỉ: Xóm D, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định
- Tại phiên tòa vắng mặt chị T, anh L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại phiên tòa hôm nay chị Bùi Thị T vắng mặt nhưng chị T có đơn xin xét xử vắng mặt. Trong đơn khởi kiện, bản tự khai cũng như quá trình tham gia tố tụng tại toà án, nguyên đơn chị Bùi Thị T thể hiện: Chị và anh Trần Văn L kết hôn vào ngày 26 tháng 4 năm 2019 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống hạnh phúc, khoảng năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Sau đó chị T đã về nhà mẹ đẻ sinh sống từ năm 2022 đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Văn L.
Về con chung: Chị T xác nhận vợ chồng không có con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị T xác nhận hai vợ chồng không có tài sản chung.
Về án phí: Chị T đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà hôm nay anh Trần Văn L không có mặt. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng đã triệu tập anh Trần Văn L đến Tòa án để làm việc nhưng anh L không hợp tác. Mặc dù anh L vẫn đi về địa phương và vẫn liên lạc được qua số điện thoại. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng đã tiến hành niêm yết đầy đủ theo quy định tại Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:
- + Về tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến xét xử tại phiên toà hôm nay Thẩm phán thụ lý giải quyết cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- + Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 6 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q: Xử ly hôn giữa chị Bùi Thị T và anh Trần Văn L; Về án phí dân sự sơ thẩm: đề nghị hội đồng giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bị đơn anh Trần Văn L đăng ký hộ khẩu thường trú tại Xóm D, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Chị Bùi Thị T có đơn xin ly hôn anh Trần Văn L và Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
Tại phiên tòa hôm nay anh Trần Văn L vắng mặt nhưng anh L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai; chị T cũng có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh L, chị T là phù hợp với Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Việc kết hôn giữa chị Bùi Thị T và anh Trần Văn L vào năm 2019 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N là hôn nhân tự do, tiến bộ. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2022 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng giải quyết vợ chồng được ly hôn. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định đã tống đạt đầy đủ những văn bản tố tụng của Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng cho anh Trần Văn L nhưng anh L không có quan điểm về việc giải quyết vụ án. Đại diện viện kiểm sát tham gia phiên Tòa có quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử xử ly hôn giữa chị T và anh L.
Hội đồng xét xử thấy: Trên thực tế mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh L đã kéo dài và ngày một trầm trọng, hôn nhân đã tan vỡ, nay chị T xin ly hôn anh L là phù hợp nên chấp nhận.
[3] Về con chung: Chị Bùi Thị T và anh Trần Văn L không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về tài sản chung: Chị Bùi Thị T xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung nên không đặt ra giải quyết.
[5] Về án phí: Chị Bùi Thị T phải nộp án phí dân dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 6 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
- Xử ly hôn giữa chị Bùi Thị T và anh Trần Văn L.
- Về án phí: Chị Bùi Thị T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp theo biên lai số 0001645 ngày 15/4/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghĩa Hưng, chị T đã nộp đủ án phí.
Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Báo cho đương sự vắng mặt biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Dương |
Bản án số 77/2025/HNGĐ-ST ngày 18/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn
- Số bản án: 77/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa chị T và anh L
