TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG LIÊM TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 77/2025/HNGĐ-ST Ngày: 13 – 6 – 2025 “ V/v Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG LIÊM, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Mỡn
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Lâm Văn Dũng
- Ông Lê Văn Lực
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Thành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long: không tham gia phiên tòa.
Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 17/2025/TLST – HNGĐ ngày 16/01/2025 về việc “Ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2025/ QĐXXST – HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 72/2025/QĐST-DS ngày 26/5/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn Bi, sinh năm 1971.
Địa chỉ cư trú: ấp 7, xã Tân An Luông, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.
- Bị đơn: Chị Lê Thị Tuyết Lan, sinh năm 1977.
Địa chỉ cư trú: ấp 7, xã Tân An Luông, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
+ Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:
- Về mối quan hệ hôn nhân: Anh Bi và chị Lan hôn nhân hình thành trên cơ sở tự quen biết, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tân An Luông vào ngày 03/4/2012. Sau khi kết hôn thì vợ chồng sống chung tại xã Tân An Luông. Đến đầu năm 2024 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cải, đời sống chung không thể dung hòa. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 01/2024 đến nay.
Nay chị cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh yêu cầu được ly hôn với chị Lan.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Lê Bảo, sinh ngày 31/8/2012 hiện đang sống với anh Bi. Sau khi ly hôn, anh Bi yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung và không yêu cầu chị Lan cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung của vợ chồng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ phải thu, phải trả: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên Tòa không lý do và không vì sự kiện bất khả kháng, không cung cấp bảng khai ý kiến về các vấn đề của nguyên đơn yêu cầu.
Tại phiên tòa:
+ Anh Bi trình bày: Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
* Đối với bị đơn vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về trình tự, thủ tục tố tụng:
Bị đơn là chị Lan có địa chỉ cư trú tại huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long nên Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm thụ lý, giải quyết vụ án là đúng quy định tại Điều 35 và 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Quá trình thụ lý vụ án, các tài liệu chứng cứ do đương sự tự giao nộp, Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ, các bên đương sự là người đã thành niên, không bị nhược điểm về thể chất tâm thần. Căn cứ vào khoản 2, Điều 21 của Bộ luật tố tụng dân sự; vụ án không thuộc trường hợp Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp phải tham gia phiên tòa.
Xét việc bị đơn chị Lan được triệu tập hợp lệ tham dự phiên hòa giải, thông báo về việc kiểm tra giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và ngày giờ xét xử đến lần thứ hai nhưng bị đơn cố tình vắng mặt không có lý do. Xét thấy, có thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho bị đơn; Hội đồng xét xử, quyết định xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, Hội đồng xét thấy:
[2.1] Giữa Anh Bi và chị Lan có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.
Tuy nhiên, trong quá trình chung sống giữa anh, chị có nhiều mâu thuẫn như: Vợ chồng thường hay cự cãi vì bất đồng quan điểm trong cuộc sống; giữa vợ chồng không còn tình cảm với nhau. Đồng thời, anh Bi và chị Lan hiện tại đã ly thân với nhau từ tháng 01/2024 đến nay.
Từ đó cho thấy, mâu thuẫn giữa vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh Bi yêu cầu xin ly hôn với chị Lan là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Khoản 1 Điều 56 quy định: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc ... hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của
2
hôn nhân không đạt được”; khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 quy định “a) Không có tình cảm vợ chồng, ví dụ: Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau; vợ, chồng sống ly thân, bỏ mặc vợ hoặc chồng; c) Vợ chồng xúc phạm nhau, làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín, tổn thất về tinh thần...”
[3.1] Về con chung:
Xét việc anh Bi có yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Lê Bảo, sinh ngày 31/8/2012 và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Tòa án nhận thấy: Từ nhỏ cháu Bảo sống chung với anh Bi cuộc sống phát triển bình thường về tinh thần, thể chất, đồng thời cháu Bảo cũng có nguyện vọng sống chung với anh Bi. Do đó cần thiết giao cháu Bảo cho anh Bi trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và chị Lan không phải cấp dưỡng nuôi con.
[3.2] Về tài sản chung: Do các đương sự không có yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
[3.3] Về nợ chung: Do các đương sự không có yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
[3.4] Về án phí sơ thẩm: Anh Bi phải chịu 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147, 273 và 227 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, 51, 55, và 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm thu nộp quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử;
- Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Nguyễn Văn Bi được ly hôn với chị Lê Thị Tuyết Lan.
- Về con chung:
Giao cháu Nguyễn Lê Bảo, sinh ngày 31/8/2012 cho anh Bi trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chị Lan không phải cấp dưỡng nuôi con.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về nợ chung phải thu, phải trả: Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
Anh Bi nộp số tiền là: 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí sơ thẩm về ly hôn. Được khấu trừ vào số tiền nộp tạm ứng án phí 300.000₫ (Ba trăm
3
ngàn đồng) theo biên lai thu số 0010011 ngày 02/4/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vũng Liêm, nên anh Bi không phải nộp thêm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a; 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Mỡn |
4
Bản án số 77/2025/HNGĐ-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG LIÊM, TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 77/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨNG LIÊM, TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: B kiện L
