|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7-VĨNH LONG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 77/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 11-12-2025
V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - VĨNH LONG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngoan
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Cảnh
Bà Phạm Thị Thu Trang
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Kiến Hòa – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 - Vĩnh Long.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7-Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Thắm – kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Vĩnh Long tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 91/2025/TLST-HNGĐ ngày 13/10/2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 168/2025/QĐXX-ST ngày 07 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Minh Thu L, sinh năm 1989.
Địa chỉ: số F, ấp G, xã T, tỉnh Vĩnh Long.
Bị đơn: Ông Huỳnh Văn N, sinh năm 1979.
Địa chỉ: số F, ấp G, xã T, tỉnh Vĩnh Long.
(Bà L, ông N vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải, đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt cùng các văn bản, tài liệu chứng cứ cung cấp cho Tòa án, nguyên đơn bà Nguyễn Minh Thu L trình bày:
Về hôn nhân: Bà và ông N kết hôn vào năm 2008, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là xã T, tỉnh Vĩnh Long) vào ngày 26/6/2008, hôn nhân do tự nguyện. Sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng gần đây thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông N ghen tuông vô cớ, ông N thường xuyên kiếm chuyện với bà, không muốn cho bà đi làm, dẫn đến vợ chồng thường xuyên tranh cãi không thể chung sống với nhau được nữa. Bà và con đã dọn ra ở riêng hơn 04 tháng nay. Bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nên xin Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông N.
Về con chung: Bà và ông N có 01 con chung tên Huỳnh Văn B, sinh ngày 20/8/2008. Con chung hiện đang sống với bà L, bà L yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: không có.
Về nợ chung: không có.
Do bận việc nên bà đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt bà.
Theo bản tự khai, biên bản hòa giải, bị đơn ông Huỳnh Văn N trình bày:
Về hôn nhân: Ông và bà L kết hôn năm 2008, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là xã T, tỉnh Vĩnh Long) hôn nhân do tự nguyện. Vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng gần đây có mâu thuẫn nhỏ là do ông nghe người khác bàn tán nên về ghen tuông với vợ vô cớ, ông đã biết lỗi, ông hứa sẽ thay đổi, hiện tại ông còn rất thương vợ, không thể sống thiếu vợ, ông mong muốn được hàn gắn, ông không đồng ý ly hôn, ông xin gia hạn thời gian ly hôn là một năm.
Về con chung: Quá trình chung sống ông và bà L có 01 con chung tên Huỳnh Văn B, sinh ngày 20/8/2008, con chung đang ở chung với bà L. Ông không ly hôn nên không yêu cầu giải quyết về người nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long phát biểu:
- -Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án là đúng quy định; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án: Bà L thực hiện đúng quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng Dân sự, ông N chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng Dân sự, vắng mặt không lý do.
- - Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà L, bà L được ly hôn với ông N. Về con chung: Đề nghị giao con chung tên Huỳnh Văn B, sinh ngày 20/8/2008 cho bà L được quyền nuôi dưỡng. Ghi nhận bà L không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung bà L và ông N đều thống nhất không có nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bà L khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với ông N và yêu cầu được nuôi con chung. Ông N có nơi cư trú tại xã T, tỉnh Vĩnh Long. Vì vậy xác định đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Vĩnh Long theo quy định tại Điều 28, 35 và 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn bà L có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt, bị đơn ông N đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa nên căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà L và ông N.
[2] Về hôn nhân: Theo bản chính Giấy chứng nhận kết hôn do bà L cung cấp thể hiện Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre chứng nhận kết hôn cho bà L và ông N vào ngày 26/6/2008. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Theo bà L trình bày, sau khi cưới nhau, thời gian đầu ông bà sống hạnh phúc, đến năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân là do ông N thường xuyên ghen tuông vô cớ dẫn đến việc vợ chồng hay tranh cãi. Ông N thì cho rằng do nghe người khác bàn tán nên ông có ghen với bà L dẫn đến việc vợ chồng tranh cãi. Ông xác định vẫn còn thương bà L nên ông mong muốn vợ chồng hàn gắn.
Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân bền vững phải được xây dựng trên cơ sở thương yêu, tôn trọng từ cả hai phía vợ và chồng. Tại Tòa ông bà cũng thể hiện sự bất đồng quan điểm, luôn tranh cãi, ông bà đã sống riêng từ đầu năm 2025 đến nay, bà L không đồng ý hàn gắn vì cho rằng vợ chồng không còn tin tưởng, thương yêu nhau. Tòa án đã tiến hành hòa giải hai lần để tạo điều kiện cho ông bà hàn gắn nhưng vẫn không có kết quả. Hội đồng xét xử xét thấy, trên thực tế hôn nhân của bà L và ông N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà L.
[3] Về con chung: Ông bà thống nhất có 01 con chung tên Huỳnh Văn B, sinh ngày 20/8/2008, con chung đang sống chung với bà L. Bà L yêu cầu được quyền trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung, yêu cầu này của bà L cũng phù hợp với nguyện vọng của con chung mong muốn được tiếp tục sống với mẹ. Hội đồng xét xử xét thấy việc tiếp tục giao con chung cho bà L nuôi dưỡng là phù hợp. Ghi nhận bà L không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Ông bà đều thống nhất tài sản chung, nợ chung không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí: Bà L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn đồng) theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, các khoản 5, 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[6] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7-Vĩnh Long là phù hợp nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 56, 80, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Minh Thu L, cụ thể tuyên:
- Về hôn nhân: Bà Nguyễn Minh T Lường được ly hôn với ông Huỳnh Văn N.
- Về con chung: Bà Nguyễn Minh T Lường được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Huỳnh Văn B, sinh ngày 20/8/2008 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Ghi nhận bà Nguyễn Minh Thu L không yêu cầu ông Huỳnh Văn N cấp dưỡng nuôi con.
Ông Huỳnh Văn N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án quyết định việc cấp dưỡng nuôi con.
Trong trường hợp có yêu cầu của một, cả hai bên hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: không có.
- Về án phí: Bà Nguyễn Minh Thu L có nghĩa vụ nộp án phí sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0004452 ngày 07 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Ghi nhận bà Nguyễn Minh Thu L đã nộp xong án phí.
- Về quyền kháng cáo bản án: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Ngoan |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Lê Văn Cảnh Phạm Thị Thu Trang | Nguyễn Thị Ngoan |
Bản án số 77/2025/HNGĐ-ST ngày 11/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7-VĨNH LONG về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 77/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7-VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Minh Thu L- Huỳnh Văn N
