|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – NGHỆ AN Bản án số: 77/2025/HNGĐ-ST Ngày 08 tháng 12 năm 2025 (V/V: Tranh chấp hôn nhân và gia đình) |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Hưng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Thanh – Bà Phan Thị Nga
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Tình - Thư ký tòa án nhân dân Khu vực 6 - Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Lại Thị Hiền – Chức danh: Kiểm sát viên.
Trong ngày 08 tháng 12 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Nghệ An mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 183/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:63/2025/QĐXX-ST ngày 17/11/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 43/2025/QĐ-HPT ngày 28 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phan Thị Huệ – sinh ngày 06/10/1997.
Trú tại: xóm 1, xã Vân Tụ, tỉnh Nghệ An.(Có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Anh Nguyễn Cảnh Minh - sinh ngày 03/01/1997.
Trú tại: xóm 1, xã Vân Tụ, tỉnh Nghệ An
(Vắng mặt lần thứ 2 tại phiên tòa không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn và quá trình giải quyết vụ án thì vụ án có nội dung:
- Về quan hệ tình cảm: Chị Phan Thị Huệ và anh Nguyễn Cảnh Minh đăng ký kết hôn ngày 27/02/2020 tại Uỷ ban nhân dân xã Lý Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An(nay là xã Vân Tụ, tỉnh Nghệ An). Trước khi tiến tới hôn nhân chị Huệ và anh Minh có quá trình tìm hiểu, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chị Huệ và anh Minh tính tình không hợp nhau, bất đồng về quan điểm sống, chung sống không hòa thuận, cuộc sống thường xảy ra xung đột. Chị Huệ và anh Minh đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Hiện tại chị Huệ xác định không còn tình cảm với anh Minh nữa. Do vậy chị Huệ đề nghị giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Cảnh Minh để ổn định cuộc sống.
- Về quan hệ con chung: Vợ chồng có với nhau 01 con chung là Nguyễn Thị Trúc Anh – Giới tính: Nữ - sinh ngày 11/05/2020. Từ ngày vợ chồng sống ly thân con chung do anh Minh trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, chị Huệ không muốn thay đổi hay làm xáo trộn cuộc sống, sinh hoạt của con, nên chị đề nghị giao con chung cho anh Minh trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, chị Huệ tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng/con chung kể từ tháng 12/2025 cho đến lúc con chung đủ 18 tuổi trưởng thành.
- Về quan hệ tài sản: Chị Phan Thị Huệ không yêu cầu tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Nguyễn Cảnh Minh, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, yêu cầu anh có mặt tại tòa án để giải quyết vụ án, nhưng anh không hợp tác, cố tình vắng mặt, tòa án không thu thập được ý kiến, lời khai của bị đơn. Song qua các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và xác minh tình trạng hôn nhân, con chung chưa thành niên tại địa phương thì về quan hệ hôn nhân, quan hệ con chung giữa chị Phan Thị Huệ, anh Nguyễn Cảnh Minh đúng như nguyên đơn đã trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Nghệ An phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ đầy đủ, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định, đảm bảo quyền, nghĩa vụ của đương sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung đơn khởi kiện của chị Phan Thị Huệ, cho chị Huệ được ly hôn với anh Nguyễn Cảnh Minh; giao con chung chưa thành niên cho anh Minh trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi trưởng thành; Ghi nhận sự tự nguyện việc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung của chị Phan Thị Huệ; dành quyền khởi kiện về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân cho các đương sự khi có yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, Bị đơn có nơi cư trú tại xã Lý Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An(nay là xã Vân Tụ, tỉnh Nghệ An) nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Nghệ An, qui định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng yêu cầu chị Huệ, anh Minh có mặt tại tòa án để giải quyết, nhưng anh Minh không chấp hành, không hợp tác. Do đó Tòa án đã lập biên bản theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự làm cơ sở để giải quyết vụ án.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Giấy triệu tập phiên tòa lần thứ nhất đối với các đương sự. Tại phiên tòa lần thứ nhất nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Cảnh Minh vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử đã quyết định hoãn phiên tòa trong đó đã ấn định về thời gian tiếp tục xét xử vụ án. Tòa án tiếp tục tống đạt, hợp lệ Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy báo tham gia phiên tòa lần thứ hai cho anh Nguyễn Cảnh Minh. Tại phiên tòa lần thứ hai, bị đơn tiếp tục vắng mặt không có lý do, căn cứ điểm a, b, khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đối với nguyên đơn chị Phan Thị Huệ, bị đơn anh Nguyễn Cảnh Minh.
- Về nội dung:
[1] Về quan hệ tình cảm: Điều kiện kết hôn, trình tự thủ tục tiến tới hôn nhân giữa chị Phan Thị Huệ và anh Nguyễn Cảnh Minh đảm bảo đúng quy định của pháp luật, việc dẫn tới hôn nhân giữa anh chị là hoàn toàn tự nguyện. Trước khi cưới anh chị đã làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Lý Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An(nay là xã Vân Tụ, tỉnh Nghệ An) được cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 06/2020, ngày 27/02/2020, qua đó thấy hôn nhân giữa chị Huệ và anh Minh là hôn nhân hợp pháp.
Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Huệ và anh Minh đã xảy, nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân, sống thiếu niềm tin đối với nhau, mâu thuẫn xẩy ra ngày càng trầm trọng dẫn đến hôn nhân đỗ vỡ, các bên sống ly thân từ năm 2022. Quá trình sống ly thân chị Huệ, anh Minh đã không liên lạc với nhau, không có ý thức níu kéo hôn nhân để đoàn tụ mà đã cắt đứt các quan hệ vợ chồng. Điều này cho thấy hôn nhân giữa chị Huệ và anh Minh thực sự đổ vỡ, tan rã, không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Phan Thị Huệ yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Minh là có căn cứ, cần áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Phan Thị Huệ được ly hôn anh Nguyễn Cảnh Minh.
[2] Về quan hệ con chung: Từ ngày vợ chồng sống ly thân con chung của vợ chồng được anh Minh trực tiếp nuôi dưỡng, con chung phát triển tốt về mọi mặt, thể hiện người bố có trách nhiệm cao đối với con chung. Hơn nữa chị Huệ trình bày trong thời gian sống ly thân con chung được anh Minh chăm sóc nuôi dưỡng, chị không muốn thay đổi hay làm xáo trộn cuộc sống, sinh hoạt của con, nên chị đề nghị giao con chung cho anh Minh trực tiếp nuôi dưỡng con chung là sự tự nguyện, đúng pháp luật, đảm bảo quyền lợi con chung của vợ chồng, nên cần chấp nhận về việc đề nghị giao nuôi con của chị Phan Thị Huệ.
-Về Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Do anh Minh trực tiếp nuôi con chung, chị Huệ tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Minh mỗi tháng mỗi tháng 2.000.000đ/con chung kể từ tháng 12/2025 cho đến lúc con chung đủ 18 tuổi trưởng thành, thể hiện người mẹ có trách nhiệm cao đối với con chung, nên cần chấp nhận việc tự nguyện đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung của chị Huệ.
[3] Về quan hệ tài sản: Chị Phan Thị Huệ không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên miễn xét.
[4] Về án phí: Buộc chị Phan Thị Huệ phải nộp án phí ly hôn, án phí cấp dưỡng sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 2, Điều 227; khoản 3 Điều 144; khoản 4 Điều 147; điểm b, khoản 2 Điều 227; Điều 228; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự, Điều 51; 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1.Về quan hệ tình cảm: Chị Phan Thị Huệ được ly hôn anh Nguyễn Cảnh Minh.
2.Về quan hệ con chung: Giao con chung là Nguyễn Thị Trúc Anh – Giới tính: Nữ - sinh ngày 11/05/2020 cho anh Nguyễn Cảnh Minh trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.
Ghi nhận sự tự nguyện việc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn của chị Phan Thị Huệ như sau:
Chị Phan Thị Huệ thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Nguyễn Cảnh Minh mỗi tháng 2.000.000đ/con chung kể từ tháng 12/2025 cho đến lúc con chung đủ 18 tuổi trưởng thành.
Kể từ ngày anh Nguyễn Cảnh Minh làm đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền nói trên, nếu chị Phan Thị Huệ không thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi suất của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qui định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Chị Phan Thị Huệ người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom chăm sóc con chung không được ai cản trở, ngăn cấm.
Vì lợi ích của con các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
3. Về án phí: Buộc chị Phan Thị Huệ nộp 300.000đ(Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn và 300.000đ(Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con sơ thẩm. Án phí chị Huệ phải nộp được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ(Ba trăm nghìn đồng) chị đã nộp tại Phòng thi hành án dân sự Khu vực 6 – Nghệ An theo biên lai nộp tiền số: 0002185 ngày 03/11/2025, chị Huệ còn phải nộp 300.000đ(Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo lên tòa án cấp phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Đình Thanh |
Nguyễn Công Hưng |
|
Phan Thị Nga |
|
Nơi nhận
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Công Hưng |
Bản án số 77/2025/HNGĐ-ST ngày 08/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 77/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
