|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỊ THANH TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 77/2025/HNGĐ-ST Ngày 03 - 4 - 2025 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Trinh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Thanh Nhân.
Ông La Thanh Long.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Thư - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.
Ngày 03 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 270/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2024 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 78/2025/QĐST- HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Võ Hoàng L, sinh năm 1981 (Có mặt).
Địa chỉ: Số A khu V, phường V, thành phố V, tỉnh Hậu Giang.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ T, sinh năm 1982 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Số A khu V, phường V, thành phố V, tỉnh Hậu Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Võ Hoàng L trình bày:
Trước đây ông Võ Hoàng L và bà Nguyễn Thị Mỹ T tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường V, thành phố V, tỉnh Hậu Giang vào ngày 03/6/2010. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau thì phát sinh nhiều mẫu thuẫn do tính cách không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống. Xét thấy mâu thuẫn trong quan hệ vợ chồng đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy ông L yêu cầu như sau:
- - Về quan hệ hôn nhân: yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Thị Mỹ T.
- - Về con chung: Quá trình chung sống ông L và bà T có 01 con chung tên Võ Hoàng T1 (Giới tính: Nam), sinh ngày 20/6/2011. Con chung hiện đang sống chung với ông L. Ông L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu bà T cấp dưỡng.
- - Về tài sản chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết.
- - Về nợ chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ T vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không có ý kiến trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Ông Võ Hoàng L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn bà Nguyễn Thị Mỹ T. Đây là tranh chấp ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.
Bà Nguyễn Thị Mỹ T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham dự phiên tòa lần thứ hai nhưng bà T vẫn vắng mặt không có lý do. Theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị Mỹ T.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Ông Võ Hoàng L và bà Nguyễn Thị Mỹ T tiến tới hôn nhân và đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường V, thành phố V, tỉnh Hậu Giang vào ngày 03/6/2010 nên quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông L là hợp pháp.
Về yêu cầu xin ly hôn của ông L: Trong quá trình chung sống, bà T và ông L thường xuyên xảy ra cãi vã, nguyên nhân do tính cách vợ chồng không phù hợp làm cho cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng, ông L và bà T đã không còn sống chung. Bà T và ông L đã không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì yêu cầu ly hôn của ông L là có cơ sở chấp nhận.
[3] Về con chung: Ông L và bà T có 01 con chung tên Võ Hoàng T1 (Giới tính: Nam), sinh ngày 20/6/2011. Con chung hiện đang sống chung với ông L. Ông L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu bà T cấp dưỡng.
Xét thấy con chung có nguyện vọng sống chung với ông L sau khi ông L và bà T ly hôn, con chung từ trước đến nay luôn do ông L chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đã quen với sự chăm sóc giáo dục của ông L, nếu giao con chung cho bà T nuôi dưỡng sẽ làm xáo trộn cuộc sống của con chung, ảnh hưởng đến quá trình phát triển thể chất, tâm lý của con chung. Hơn nữa, ông L hiện tại có việc làm và thu nhập ổn định đủ khả năng để nuôi dưỡng con chung, cho nên Hội đồng xét xử giao con chung cho ông L được quyền trực tiếp nuôi dưỡng. Bà T chưa phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do ông L chưa yêu cầu.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét trong cùng vụ án.
[5] Nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm: Ông Võ Hoàng L phải chịu là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 và 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các điều 19, 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Hoàng L. Ông Võ Hoàng L được ly hôn với bà Nguyễn Thị Mỹ T.
2. Về con chung: Ông Võ Hoàng L được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Võ Hoàng T1 (Giới tính: Nam), sinh ngày 20/6/2011.
Bà Nguyễn Thị Mỹ T chưa phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung do ông Võ Hoàng L chưa yêu cầu.
Bà Nguyễn Thị Mỹ T có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, nợ chung: đương sự không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét trong cùng vụ án.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Võ Hoàng L phải chịu là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), ông L được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001342 ngày 16/12/2024 của Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố V. Ông Võ Hoàng L không phải nộp thêm.
5. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 03/4/2025. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc vắng mặt khi tòa tuyên án thì được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đã ký Huỳnh Thị Trinh |
Bản án số 77/2025/HNGĐ-ST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 77/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: CHO LH
