Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2025/DSST
Ngày: 27-5-2025
Tranh chấp hợp đồng đặt cọc

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Trung Hiếu

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Châu Hồng Nga và bà Hoàng Lệ Chi.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Ninh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Xuân Tình - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 47/2025/TLST-DS ngày 17 tháng 01 năm 2025 về việc tranh chấp hợp đồng đặt cọc theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2025/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 4 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 91/2025/QĐST-DS ngày 06 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đinh Thị Mai S, sinh năm 1979; địa chỉ: C E, đường Đ, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Công ty TNHH Đ; địa chỉ: Số A đường N, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Hoàng H, sinh năm 1991; địa chỉ: Số A đường N, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 03/12/2024 của nguyên đơn bà Đinh Thị Mai S, lời khai trong suốt quá trình tố tụng của nguyên đơn trình bày:

Ngày 14/10/2024 bà Đinh Thị Mai S và Công ty TNHH Đ (sau đây gọi là Công ty Đ) ký Hợp đồng đặt cọc để đảm bảo việc chuyển nhượng thửa đất số 480, tờ bản đồ 36, diện tích đất 1094,1m² tại xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương. Giá chuyển nhượng 520.000.000 (năm trăm hai mươi triệu) đồng.

Phương thức thanh toán:

Đợt 1: Đặt cọc 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng;

Đợt 2: Từ ngày 14/10/2024 đến ngày 14/11/2024 thanh toán số tiền 470.000.000 (bốn trăm bảy mươi triệu) đồng khi ký chuyển nhượng tại văn phòng C.

Ngay sau khi hai bên ký hợp đồng đặt cọc bà S đã thanh toán số tiền cọc cho Công ty. Ngày 24/10/2024 bà S có liên hệ công ty để ký hợp đồng chuyển nhượng thì được nhân viên công ty cho biết chủ đất chưa tới nên chưa ký được. Bà S đã nhiều lần yêu cầu công ty ký kết hợp đồng chuyển nhượng nhưng công ty không thực hiện. Bà S khởi kiện yêu cầu:

Hủy hợp đồng ký ngày 14/10/2024 được ký giữa bà Đinh Thị Mai S và Công ty TNHH Đ. Buộc Công ty TNHH Đ trả lại số tiền cọc 50.000.000 đồng.

- Người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH Đ là ông Nguyễn Hoàng H trình bày:

Ngày 14/10/2024 Công ty TNHH Đ có ký hợp đồng đặt cọc thỏa thuận việc ký kết chuyển nhượng thửa đất số 480, tờ bản đồ 36, diện tích đất 1094,1m² tại xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương. Theo thỏa thuận trong việc chuyển nhượng thửa đất 520.000.000 đồng, sau khi ký kết sẽ giao số tiền 50.000.000 đồng. Từ ngày 14/10/2024 đến ngày 14/11/2024 tiến hành ký kết hợp đồng chuyển nhượng đồng thời bà S sẽ thanh toán đủ số tiền 470.000.000 đồng. Đối với yêu cầu khởi kiện của bà S bị đơn đồng ý hủy hợp đồng đặt cọc ngày 14/10/2024 giữa bà Đinh Thị Mai S và Công ty TNHH Đ. Số tiền đặt cọc 50.000.000 đồng sẽ chuyển sang tiền cọc một hợp đồng khác.

- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập 2 lần nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định.

Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận về tuyên hủy bỏ hợp đồng đặt cọc, buộc bị đơn trả lại số tiền đặt cọc đã nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

1. Về tố tụng:

1.1. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Bà Đinh Thị Mai S khởi kiện tranh chấp hợp đồng đặt cọc với Công ty TNHH Đ theo Hợp đồng đặt cọc ngày 14/10/2024, bị đơn có địa chỉ khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An theo quy định tại Điều 26, 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

1.2. Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn được Tòa án triệu tập tham gia phiên toa nhưng vắng mặt không có lý căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của bị đơn.

2. Về nội dung vụ án:

2.1. Xét nội dung của hợp đồng: Hợp đồng đặt cọc ngày 14/10/2024 giữa bà Đinh Thị Mai S và Công ty TNHH Đ thỏa thuận đặt cọc nhằm đảm bảo ký kết hợp chuyển nhượng thửa đất số 480, tờ bản đồ 36, diện tích đất 1094,1m² tại xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương. Hợp đồng đặt cọc là thể hiện ý chí tự nguyện của các bên, giao dịch đặt cọc giữa hai bên được lập thành văn bản, có những thỏa thuận cụ thể về đối tượng được đảm bảo, về số tiền đặt cọc và thời gian ký hợp đồng chuyển nhượng và trách nhiệm của các bên việc ký hợp đồng đặt cọc trên là hoàn toàn tự nguyện, đúng ý chí của các bên, không bị ép buộc, lừa dối. Mục đích và nội dung của thỏa thuận đặt cọc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, tại thời điểm giao kết hợp đồng các bên đương sự có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Căn cứ vào Điều 117 và Điều 328 của Bộ luật dân sự thì Hợp đồng đặt cọc ngày 14/10/2024 giữa bà Đinh Thị Mai S và Công ty TNHH Đ phát sinh hiệu lực đối với các bên.

Thực hiện theo hợp đồng đặt cọc bà S đã giao cho Công ty Đ số tiền đặt cọc. Tuy nhiên đến thời điểm hiện tại Công ty Đ không thực hiện nghĩa vụ của bên nhận cọc cụ thể Công ty không thực hiện việc ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, không cung cấp bất cứ chứng cứ chứng minh có sự kiện bất khả kháng là vi phạm nghĩa vụ của bên nhận cọc. Nguyên đơn yêu cầu hủy hợp đồng, bị đơn cũng đồng ý. Xét đây là ý chí tự nguyện của đương sự, không trái quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

2.2. Về xử lý hậu quả của việc hủy hợp đồng:

Nguyên đơn yêu cầu Công ty phải hoàn trả tiền cọc 50.000.000 đồng, bị đơn cũng đồng ý trả nhưng bằng hình thức chuyển sang hợp đồng khác nhưng nguyên đơn không đồng ý. Xét hậu quả của hợp đồng bị hủy bỏ thì hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết, các bên không phải thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo Điều 427 Bộ luật dân sự. Nguyên đơn không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.

3. Từ những nhận định trên có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

4. Quan điểm của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

5. Do yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Thị Mai S được Tòa án chấp nhận nên Công ty TNHH Đ phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 4 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, 96, 144, 147, 227, 228, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 116, 117, 328, 418, 423, 424, 427, 468 Bộ luật dân sự 2015;

Căn cứ khoản 4 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đinh Thị Mai S với bị đơn Công ty TNHH Đ về việc Tranh chấp hợp đồng đặt cọc.

1. Hủy hợp đồng đặt cọc ngày 14/10/2024 giữa nguyên đơn bà Đinh Thị Mai S và Công ty TNHH Đ.

- Buộc Công ty TNHH Đ phải trả cho bà Đinh Thị M Sương số tiền là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) tiền cọc.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền phải thi hành theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm trả.

2. Về án phí:

- Công ty TNHH Đ phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Trả cho bà Đinh Thị Mai S số tiền tạm ứng án phí 1.550.000 (một triệu năm trăm năm mươi nghìn) đồng theo biên lai thu tiền số 0007694 ngày 13/01/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An.

3. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự ./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND TP. Dĩ An;
  • - Chi cục THADS TP. Dĩ An;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VT; HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Trung Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 77/2025/DSST ngày 27/05/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 77/2025/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng đặt cọc giữa bà Đinh Thị Mai S và Công ty Thiện Đức P
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger