Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN TRE

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2025/DS-ST

Ngày: 27-5-2025

V/v: “tranh chấp hợp đồng đặt cọc”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Xuân Thi

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Ngọc Thôi
  2. Ông Lâm Thành Thông

Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Thái Khang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre

Vào ngày 27 tháng 5 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án vụ án dân sự sơ thẩm số 22/2025/TLST-DS ngày 22 tháng 01 năm 2025 về việc “tranh chấp hợp đồng đặt cọc”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2025/QĐXXST-KDTM ngày 21 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Hoàng Tuấn D, sinh năm 1961. Địa chỉ: H ấp A, xã S, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

2. Bị đơn: Ông Lê Huỳnh Anh T, sinh năm 1977. Địa chỉ: B ấp B, xã P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

Các đương sự có mặt tại tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện; bản tự khai và các văn bản, tài liệu chứng cứ cung cấp cho Tòa án cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn là ông Hoàng Tuấn D trình bày:

Vào ngày 19/10/2024, ông có ký hợp đồng đặt cọc mua bán chỉ xơ dừa với ông Lê Huỳnh Anh T, theo hợp đồng, ông đã đặt cọc cho ông T 100.000.000 đồng, ông T có trách nhiệm giao hàng trong thời hạn 10 ngày. Tuy nhiên, đến hạn giao hàng, ông T đã không giao hàng như thỏa thuận mà cứ hẹn tới hẹn lui nhiều lần.

Ông khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông T phải trả cho ông số tiền đặt cọc 100.000.000 đồng và phải bồi thường thiệt hại cho 44.000.000 đồng.

Đối với số tiền bồi thường thiệt hại 44.000.000 đồng ông không có chứng cứ để chứng minh, do ông làm ăn với người nước ngoài, nếu vi phạm ông phải bồi thường, thực tế thiệt hại chưa xảy ra, ông cũng chưa thanh toán hợp đồng với bên thứ ba nên ông chưa có chứng cứ.

Tại phiên tòa, ông rút lại yêu cầu bồi thường thiệt hại do không có chứng cứ chứng minh.

Tại bản tự khai và các văn bản, tài liệu chứng cứ cung cấp cho Tòa án cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông Lê Huỳnh Anh T trình bày:

Ông thừa nhận có thỏa thuận cung cấp chỉ xơ dừa cho ông Hoàng Tuấn D và có viết Hợp đồng mua bán chỉ xơ dừa như ông D trình bày, số tiền 100.000.000 đồng ông có nhận qua hình thức chuyển khoản, nhưng người chuyển không phải là ông D mà là người khác. Theo thỏa thuận miệng giữa ông và ông D thì ông giao chỉ xơ dừa cho ông D và A (bạn ông D- người Trung Quốc).

Ông đã giao hàng 03 lần:

  1. Lần 1: khoảng tháng 10 năm 2024, ông giao 01 xe container số lượng hàng bao nhiêu ông không nhớ rõ, ông A có chuyển tiền thanh toán tiền hàng cho ông đầy đủ.
  2. Lần 2: Ngày 08/1/2025, ông giao 01 xe container 160 cục hàng với số tiền 66.000.000 đồng, số tiền này được trừ vào tiền cọc. Người nhận hàng là ông A và lúc đó có mặt ông D.
  3. Lần 3: Ngày 01/3/2025, giao số lượng 15.850kg, người nhận hàng là ông A và có mặt ông D, ông D có kêu ông nhận tiền mặt nhưng ông không nhận vì trong số lượng hàng giao này có hàng là của bạn ông tên H, ngày 02/3/2025 ông D và ông A trả tiền cho trực tiếp cho ông H và có trừ nợ của ông 5.000.000 đồng.

Tổng cộng ông giao hàng và trừ vào tiền cọc là 71.000.000 đồng. Ông chỉ còn nợ lại tiền cọc 29.000.000 đồng. Ông đồng ý trả lại số tiền cọc còn nợ là 29.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của các đương sự, căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Lê Huỳnh Anh T, yêu cầu trả số tiền đặt cọc mua chỉ xơ dừa, là tranh chấp phát sinh từ hợp đồng đặt cọc mua bán hàng hóa, nên đây là vụ kiện “tranh chấp hợp đồng đặt cọc” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 và khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Bị đơn ông Lê Huỳnh Anh T có nơi cư trú tại thành phố B, tỉnh Bến Tre nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về xét nội dung yêu cầu khởi kiện:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hoàng Tuấn D về việc yêu cầu bị đơn ông Lê Huỳnh Anh T hoàn trả số tiền đặt cọc 100.000.000 đồng và bồi thường thiệt hại 44.000.000 đồng, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[2.1] Về yêu cầu hoàn trả tiền đặt cọc:

Căn cứ Hợp đồng đặt cọc mua bán chỉ xơ dừa ngày 19/10/2024 giữa ông D và ông T, các bên đã thỏa thuận ông D đặt cọc 100.000.000 đồng cho ông T để đảm bảo thực hiện hợp đồng, ông T có trách nhiệm giao hàng trong thời hạn 10 ngày. Tuy nhiên, bị đơn ông T đã không thực hiện nghĩa vụ giao hàng đúng thời hạn, không cung cấp được chứng cứ chứng minh đã giao đủ số lượng hàng hóa như cam kết cho ông D.

Tại phiên tòa, ông T cho rằng đã giao hàng cho ông A – người nước ngoài – và cho rằng có sự thỏa thuận giữa ông D và ông A về việc giao hàng. Tuy nhiên, bị đơn không cung cấp được bất kỳ chứng cứ nào để chứng minh mối quan hệ giữa ông D và ông A, cũng như không xuất trình được tài liệu chứng minh ông D đã ủy quyền hoặc thỏa thuận cho ông A nhận hàng thay.

Việc bị đơn viện dẫn giao hàng cho người thứ ba (ông A) mà không có sự đồng ý hoặc xác nhận của nguyên đơn là không có căn cứ pháp luật và không làm phát sinh nghĩa vụ thanh toán cho bên thứ ba thay cho ông D. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận lập luận của bị đơn về việc đã giao hàng và đã trừ vào tiền đặt cọc.

Hội đồng xét xử xét thấy nguyên đơn đã thực hiện đúng nghĩa vụ đặt cọc theo hợp đồng, trong khi bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ giao hàng theo thỏa thuận và không chứng minh được việc thực hiện hợp đồng. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn hoàn trả toàn bộ số tiền đặt cọc 100.000.000 đồng cho nguyên đơn.

[2.2] Về yêu cầu bồi thường thiệt hại 44.000.000 đồng:

Tại phiên tòa, nguyên đơn xin rút lại yêu cầu bồi thường thiệt hại do không có chứng cứ chứng minh. Xét thấy việc rút yêu cầu này là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận việc rút yêu cầu này và đình chỉ giải quyết đối với phần yêu cầu bồi thường thiệt hại của nguyên đơn.

[3] Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 26 và Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 6, Điều 24 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với nghĩa vụ phải thực hiện.

Do yêu cầu khởi kiện nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 5.000.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 91, 93, 147, 217, khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 328, 385, 401, 351 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: buộc bị đơn ông Lê Huỳnh Anh T trả cho ông Hoàng Tuấn D số tiền đặt cọc 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

  2. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại số tiền 44.000.000 (Bốn mươi bốn triệu) đồng do nguyên đơn ông Hoàng Tuấn D tự nguyện rút yêu cầu. Ông Hoàng Tuấn D được quyền khởi kiện lại nội dung này theo quy định của pháp luật.
  3. Về án phí: Bị đơn ông Lê Huỳnh Anh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).
  4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND TP Bến Tre;
  • - Chi cục THADS TP Bến Tre;
  • - TAND tỉnh Bến Tre;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Phạm Thị Xuân Thi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 77/2025/DS-ST ngày 27/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 77/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án tranh chấp hợp đồng đặt cọc giữa Ông Hoàng Tuấn D và ông Lê Huỳnh Anh T, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger