|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 77/2025/DS-PT
Ngày: 17/02/2025
V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Nguyễn Thu Huyền |
| Các Thẩm phán: | Bà Trần Thị Liên Anh |
| Bà Nguyễn Thị Lan Anh | |
| Thư ký phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Thu Hương, Thư ký Tòa án |
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa:
Bà Đặng Thị Sơn Cầm - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 501/2024/TLPT-DS ngày 16/12/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 30A/2024/DSST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 602/2024/QĐ-PT ngày 31/12/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2025/QĐPT-HPT ngày 17/01/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phùng Thị L, sinh năm 1965.
Địa chỉ: Tổ dân phố B, Á, phường T, thị xã S, thành phố Hà Nội.
- Bị đơn: chị Phạm Thị Ngọc T, sinh năm 1981.
Địa chỉ: Số nhà I, ngõ E, ngách A, tổ dân phố A, Á, phường T, thị xã S, thành phố Hà Nội.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Phùng Văn C, sinh năm 1957
Địa chỉ: Tổ dân phố B, Á, phường T, thị xã S, thành phố Hà Nội. (Ông C ủy quyền cho bà L tham gia tố tụng trong vụ án, theo hợp đồng ủy quyền số 619/2024/HĐ-UQ, ngày 19/8/2024).
2. Anh Quách Văn D, sinh năm 1978.
Địa chỉ: Số nhà I, ngõ E, nghách A, tổ dân phố A, Á, phường T, thị xã S, thành phố Hà Nội.
Do có kháng cáo của bị đơn - chị Phạm Thị Ngọc T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm vụ án có nội dung như sau:
1
Trong đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Phùng Thị L trình bày:
Bà L và chị T là hàng xóm của nhau, trước đây có đi chợ bán cá cùng nhau. Do cần tiền để làm ăn nên chị T có hỏi vay tiền bà L làm nhiều lần, các lần vay tiền đều có giấy biên nhận, có chữ ký xác nhận của chị T. Tổng cộng số tiền 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng), cụ thể:
- Lần thứ nhất: Ngày 01/9/2011, vay 30.0000.000 đ;
- Lần thứ hai: Ngày 26/4/2012, vay 10.0000.000 đ;
- Lần thứ ba: Ngày 19/4/2012, vay 100.0000.000 đ;
- Lần thứ tư: Ngày 28/9/2013(Âm lịch), vay 30.0000.000 đ;
- Lần thứ năm: Ngày 05/3/2015, vay 50.0000.000 đ;
- Lần thứ sáu: Ngày 11/4/2015, vay 50.0000.000 đ;
- Lần thứ bảy: Ngày 09/5/2015, vay 30.0000.000 đ.
Các lần vay tiền trong giấy vay tiền đều không thỏa thuận về lãi suất mà hai bên chỉ thỏa thuận miệng với nhau chị T trả theo lãi suất Ngân hàng. Còn tiền gốc khi nào cần thì bà L báo cho chị T.
Quá trình vay tiền chị T đã không thực hiện đúng cam kết, không trả đầy đủ gốc và lãi cho bà L. Ngày 15/8/2024, tại Tòa án chị T có đưa ra các giấy nhận tiền trong đó có giấy có chữ ký của bà L, có giấy thì không. Bà L khẳng định các giấy tờ chị T trả tiền có chữ ký của bà, bà cộng lại là 88.000.000 đồng. Còn lại 212.000.000 đồng bà yêu cầu chị T phải trả đầy đủ và tự nguyện không yêu cầu tính lãi suất.
Các giấy tờ khác không có chữ ký nhận tiền của bà L bà không công nhận vì nhiều tờ giấy trong sổ chị T tự ghi thêm vào số tiền đã trả. Về giấy vay tiền ngày 11/4/2015 số tiền vay 50.0000.000 đồng, chị T cho rằng là giấy phô tô không phải bản gốc bà không đồng ý vì đây là bản gốc, nhưng viết mực đen và đã có kết quả giám định.
Bị đơn - chị Phạm Thị Ngọc T trình bày:
Chị T có đi chợ bán cá với bà L, do chị T cần tiền để buôn bán nên có vay tiền của bà L từ năm 2011 đến năm 2015, tổng cộng là 300.000.000đ, cụ thể:
- Vay 30.000.000đ vào ngày 01/9/2011;
- Vay 10.000.000đ vào ngày 26/4/2012;
- Vay 100.000.000đ vào ngày 19/4/2012;
- Vay 30.000.000đ vào ngày 28/9/2013 (Âm lịch);
- Vay 50.000.000đ vào ngày 05/3/2015;
- Vay 50.000.000đ vào ngày 11/4/2015;
- Vay 30.000.000đ ngày vay 09/5/2015;
Chị đã được Tòa án và bà L cho xem các giấy vay tiền này, chị thừa nhận các giấy này đúng là chữ ký của chị T. Nhưng chị khẳng định là đã trả cho bà L số tiền là 200.500.000 đồng, chị có giấy ghi việc trả nợ này và giao nộp cho Tòa án, có giấy thì có chữ ký của bà L, có giấy thì không có chữ ký của bà L, chữ viết trong giấy là của chị T viết còn chữ ký là của bà L. Còn lại số tiền 99.500.000 đồng chị T đã đưa tay cho bà L và không có giấy tờ về việc trả số tiền này. Chị T đã trả số tiền 300.000.000 đồng là tiền gốc, còn tiền lãi chị đã trả cho bà L từ năm 2011 đến năm 2015, sau đó chị không trả lãi nữa. Đến nay
2
chị T còn nợ bà L số tiền lãi là 17.000.000 đồng. Tại Tòa án bà L không yêu cầu chị T phải trả tiền lãi chị không có ý kiến gì.
Tại phiên họp hòa giải và công khai chứng cứ bà L có đưa ra 07 giấy vay tiền số tiền vay là 300.000.000 đồng. Tuy nhiên, về giấy vay tiền ngày 11/4/2015 số tiền 50.0000.000 đồng, chị T cho rằng là giấy phô tô không phải bản gốc, chị không đồng ý về số tiền 50.000.000 đồng này. Nếu bà L có đủ giấy bản gốc vay là 300.000.000 đồng thì chị T đồng ý đã vay của bà L 300.000.000 đồng, nếu không đưa ra được thì chỉ thừa nhận vay số tiền gốc là 250.000.000₫.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan - anh Quách Văn Đ trình bày:
Anh là chồng của chị T, việc chị T vay tiền của bà L cụ thể như thế nào anh không biết. Đến năm 2015 thì anh mới biết việc chị T vay tiền của bà L. Sau đó anh Đ và vợ có trả cho bà L hai lần được số tiền 43.000.000 đồng, khi trả tiền có chữ ký của bà L là người nhận tiền. Số tiền vợ anh vay của bà L không dùng vào việc chi tiêu chung trong gia đình.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 30A/2024/DSST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội đã quyết định:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phùng Thị L.
- Buộc vợ chồng chị Phạm Thị Ngọc T, anh Quách Văn Đ phải có trách nhiệm thanh toán trả cho vợ chồng bà Phùng Thị L, ông Phùng Văn C số tiền gốc là 212.000.000 đồng (Hai trăm mười hai triệu đồng).
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Không nhất trí với quyết định của Bản án sơ thẩm, bị đơn chị Phạm Thị Ngọc T kháng cáo đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 30A/2024/DSST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đương sự không rút đơn khởi kiện, đơn kháng cáo, không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, không xuất trình chứng cứ mới.
Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử và các đương sự tuân thủ đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn kháng cáo hợp lệ về hình thức
Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ kiện, đại diện VKS nhân dân Thành phố H đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm bác kháng cáo của bị đơn, tuy nhiên áp dụng Khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự tuyên sửa bản án dân sự sơ thẩm số 30A/2024/DSST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội về án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị đơn chị Phạm Thị Ngọc T nộp trong hạn luật định, đã nộp dự phí kháng cáo, về hình thức là hợp lệ.
2. Về tố tụng: Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Quách Văn Đ có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa nên căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng
3
dân sự, xét xử vắng mặt anh Quách Văn Đ.
3. Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn chị Phạm Thị Ngọc T, thì các giấy vay tiền lập ngày 01/9/2011; ngày 26/4/2012; ngày 19/4/2012; ngày 28/9/2013 (Âm lịch); ngày 05/3/2015; ngày 11/4/2015 và ngày vay 09/5/2015 được lập thành văn bản, do chị T tự tay viết và ký tên trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội và đều được các bên thừa nhận, tại Tòa án cấp sơ thẩm các bên đã xác nhận tổng số tiền chị T vay của bà L (nợ gốc) là 300.000.000₫ (ba trăm triệu đồng) phù hợp với tổng số tiền ghi trên các giấy vay nợ nêu trên, do đó có đủ căn cứ để xác định các giấy vay tiền trên là hợp pháp, có hiệu lực để các bên thực hiện.
Về lãi vay: Trong các giấy vay tiền đều thể hiện trong hai bên không thỏa thuận về lãi suất và thời gian trả tiền gốc, quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm các bên đều trình bày có thỏa thuận miệng về lãi suất, tuy nhiên nguyên đơn không yêu cầu bị đơn phải trả lãi nên Tòa án không xem xét.
Về quá trình trả nợ, chị T cho rằng đã trả cho bà L số tiền gốc là 200.500.000 đồng, mỗi lần trả nợ được chị ghi trong sổ trong đó có khoản thì có chữ ký của bà L, có khoản thì không có chữ ký của bà L. Ngoài ra, chị T còn đưa tay cho bà L số tiền 99.500.000 đồng mà không có giấy tờ về việc trả số tiền này nhưng bà L không thừa nhận việc chị T đã trả hết nợ, mà chỉ thừa nhận các khoản tiền chị T trả nợ có chữ ký xác nhận của bà T và số tiền chồng chị T là anh Đ đã trả, tổng cộng được 88.000.000 đồng, còn lại 212.000.000 đồng chưa trả. Xét thấy quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm chị T chỉ có lời khai mà không có tài liệu, chứng cứ chứng minh đã trả hết tiền gốc 300.000.000đ cho bà L nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận lời khai của chị T về việc đã trả hết nợ gốc cho bà L là có căn cứ.
Anh Nguyễn Văn Đ1 là chồng chị T biết việc chị T vay tiền của bà L và cùng chị T trả một phần tiền trong tổng số nợ của chị T cho bà L nên cấp sơ thẩm buộc anh Đ1 cùng có nghĩa vụ chung trong việc thanh toán số tiền gốc còn nợ lại là 212.000.000đ cho bà L và chồng là ông Phùng Văn C là có căn cứ.
Tại cấp phúc thẩm chị T và anh Đ1 không xuất trình thêm tài liệu chứng cứ gì mới nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của chị T.
Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm: Tòa án cấp sơ thẩm quyết định: “Buộc vợ chồng chị Phạm Thị Ngọc T, anh Quách Văn Đ phải có trách nhiệm thanh toán trả cho vợ chồng bà Phùng Thị L, ông Phùng Văn C số tiền nợ gốc là 212.000.000 đồng (Hai trăm mười hai triệu đồng) nhưng chỉ buộc một mình chị T phải chịu án phí sơ thẩm là thiếu sót, cần sửa án phí sơ thẩm buộc chị T và anh Đ phải liên đới chịu án phí sơ thẩm số tiền 10.600.000 đồng.
Nguyên đơn – bà Phùng Thị L được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa án sơ thẩm nên bị đơn (người kháng cáo) không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
4
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các điều 26, 30, 35, 39, 147, 148 và khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 280, Điều 335, Điều 357; Điều 513; Điều 466; Điều 468 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án; Luật thi hành án dân sự.
Xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn – chị Phạm Thị Ngọc T; tuy nhiên sửa một phần bản án sơ thẩm số 30A/2024/DS-ST ngày 27/9/2024 của TAND thị xã Sơn Tây về án phí dân sự sơ thẩm, cụ thể:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phùng Thị L.
- Buộc vợ chồng chị Phạm Thị Ngọc T, anh Quách Văn Đ phải có trách nhiệm thanh toán trả cho vợ chồng bà Phùng Thị L, ông Phùng Văn C số tiền nợ gốc là 212.000.000 đồng (Hai trăm mười hai triệu đồng).
- Về án phí:
- - Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Phạm Thị Ngọc T và anh Quách Văn Đ phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 10.600.000 đồng (mười triệu sáu trăm nghìn đồng).
- Hoàn trả lại bà Phùng Thị L số tiền tạm ứng án phí là 2.000.000đ (hai triệu đồng), theo biên lai số 0000934 ngày 17/6/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây, Hà Nội.
- - Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn – chị Phạm Thị Ngọc T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, được trả lại số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 970 ngày 04/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
5
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thu Huyền |
|
Các Thẩm phán |
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
6
7
Bản án số 77/2025/DS-PT ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 77/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
